Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lưu Văn Có.
  • Ông Đào Thanh Tùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 416/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023; Thông báo thời gian, địa điểm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự số 14A/TB-TA ngày 22/01/2024 và Thông báo thời gian, địa điểm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự số 131/TB-TA ngày 17/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Văn T- sinh năm 1997 tại Khánh Hòa; ĐKTT: Tổ 4 thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Đang chấp hành án tại Trại giam T4- Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi P- sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị L- sinh năm 1970; tiền án: 01- Bản án số 46/2019/HS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Quyết định tổng hợp hình phạt số 07/2020/QĐ-CA ngày 23/4/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang: Tổng hợp hình phạt tù của hai Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2019/HS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và Bản án số 46/2019/HS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Buộc người chấp hành án Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 03 năm 06 tháng tù), chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/9/2022; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 79/2015/HSPT ngày 25/6/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2016. Bản án số 292/2018/HSST ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 135/2019/HSST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 186/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/3/2023; bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T4- Bộ C1. Có mặt.
  2. Nguyễn Trần Duy T1- sinh năm 1998 tại Khánh Hòa; ĐKTT: Thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Đang chấp hành án tại Trại giam H- Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn P1 (chết) và bà Trần Thị C (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 186/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/3/2023. Bản án số 23/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án số 186/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/3/2023; bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam H- Bộ C1. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị T2- sinh năm 1994; địa chỉ: 2 Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Ngọc T3- sinh năm 1978; địa chỉ: Lô A khu I T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/12/2022, Nguyễn Trần Duy T1 điều khiển xe máy hiệu Exciter (không rõ biển số) chở Bùi Văn T đến trước nhà B Đ, xã V, thành phố N thấy 01 xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 79N1- 225.92 của chị Nguyễn Thị T2 dựng ở sân nhà. Lúc này, T1 ngồi trên xe cảnh giới còn T đi đến dùng đoản phá khóa lấy trộm xe máy ra ngoài nổ máy cùng nhau chạy về phòng trọ tại thôn X, xã V, thành phố N cất giấu. Đến ngày 31/12/2022, T thông qua mạng Facebook rao bán chiếc xe trộm được cho một người tên “S” (không rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng rồi chia cho T1 số tiền 2.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Ngày 12/3/2023, Công an xã V, thành phố N tuần tra phát hiện T, T1 có dấu hiệu nghi vấn nên đưa về làm việc, tại Cơ quan công an, T và T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản số: 207/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U kết luận: 01 xe máy Honda- AirBlade biển kiểm soát 79N1- 225.92 trị giá 7.200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 con dao; 01 đoản kim loại; 01 ví nam; 01 điện thoại Samsung.

Bản Cáo trạng số 332/CT-VKSNT-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để xét xử Bùi Văn T, Nguyễn Trần Duy T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn T, xử phạt Nguyễn Trần Duy T1 từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, xử phạt Bùi Văn T từ 01 năm đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận, khoảng 20 giờ ngày 30/12/2022, tại trước nhà số B Đ, xã V, thành phố N, Bùi Văn T và Nguyễn Trần Duy T1 trộm cắp xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 79N1- 225.92 của chị Nguyễn Thị T2 có giá trị 7.200.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 332/CT-VKSNT-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để xét xử Bùi Văn T, Nguyễn Trần Duy T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo Bùi Văn T là người đang có tiền án: Quyết định tổng hợp hình phạt số 07/2020/QĐ-CA ngày 23/4/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang buộc Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/9/2022 nên chưa được xóa án tích, do đó bị cáo T phạm tội lần này là tái phạm. Về nhân thân: các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản của người khác và các tội khác quy định tại Bộ luật Hình sự, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Bản án số 186/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Bùi Văn T 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/3/2023; do vậy cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Bản án số 23/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Nguyễn Trần Duy T1 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án số 186/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/3/2023; do vậy cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Trần Duy T1 phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Đối với đối tượng tên “S” có hành vi mua xe máy do các bị cáo trộm cắp mà có nhưng hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

Xác minh xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 79N1- 225.92 thuộc sở hữu của Lê Ngọc T3; ông T3 có lời khai đã bán xe này cho người khác nhưng không nhớ bán cho ai và không có ý kiến gì nên không xét.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo trộm cắp của chị Nguyễn Thị T2 01 xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 79N1- 225.92 có giá trị 7.200.000 đồng. Tại phiên tòa chị T2 vắng mặt nhưng có lời khai yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; các bị cáo đồng ý bồi thường cho chị T2 7.200.000đ (giá trị xe theo Hội đồng định giá xác định). Do vậy buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho chị T2, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 3.600.000 đồng.

[6] Về vật chứng: 01 con dao màu đen; 01 đoản kim loại; 01 ví nam và 01 điện thoại di động Samsung màu đồng tình trạng mặt kính trước bị nứt đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong- là những đồ vật thu của Bùi Văn T. Tại phiên tòa, T xác định những vật này không còn giá trị sử dụng và không có yêu cầu nhận lại. Nhận thấy những vật này không giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn T.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù tại Bản án số 186/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/3/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trần Duy T1.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Duy T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 04 (bốn) năm tù tại Bản án số 23/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/3/2023.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc:

Bị cáo Bùi Văn T bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Trần Duy T1 bồi thường cho chị Nguyễn Thị T2 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án khoản tiền trên thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao màu đen; 01 đoản kim loại; 01 ví nam và 01 điện thoại di động Samsung màu đồng, tình trạng mặt kính trước bị nứt, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Trần Duy T1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

THẨM

  • . Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • TÒA
  • Viện kiểm sát nhân dân Tp . Nha Trang;
  • . Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • Công an Tp. Nha Trang; Cơ quan thi hành án hình sự;
  • . Sở Tư pháp Khánh Hòa; Thi hành án dân sự Tp . Nha Trang;
  • . Các bị cáo; đương sự;
  • . Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN

Nguyễn Trọng Rực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Thuận và đồng phạm "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger