TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/DSPT.
Ngày: 08 - 8 - 2024
V/v Tranh chấp QSD đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tòa phiên tòa: Bà Trần Thị N
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Q
Bà Nguyễn Thị T
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2024/DSPT ngày 29/5/2024, về Tranh chấp quyền sử dụng đất. Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DSST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐ - PT ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nịnh Văn S, sinh năm 1962. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Nịnh Ngọc K, sinh năm 1960. (Có mặt)
Cùng cư trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1962. (Có mặt)
- - Bà Lý Thị M, sinh năm 1970. (Có mặt)
- - Anh Nịnh Lý Hoàng T1, sinh năm 2000. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Anh Nịnh Văn L, sinh năm 1988. (Xin vắng mặt)
- - Chị Nịnh Thị T2, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
- - Anh Nịnh Tiến Q1, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
- - Anh Nịnh Văn T3, sinh năm 1982. (Xin vắng mặt)
Cùng cư trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người làm chứng:
- - Ông Nịnh Quang S1, sinh năm 1954
- - Ông Nịnh Văn B, sinh năm 1966
- - Ông Lý Văn I, sinh năm 1963
- - Ông Nịnh Công Í, sinh năm 1958
- - Anh Đàm Văn H1, sinh năm 1970
- - Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1953
Cùng cư trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Nịnh Văn S trình bày:
Gia đình tôi có 01 thửa đất số 11 tờ bản đồ 2 xã Y, ở địa phương là khu H. Nguồn gốc là do gia đình tôi khai phá sử dụng từ khoảng năm 1980, tứ cận: Phía đông giáp đất ông Lý Văn I, phía tây giáp đất bà Hoàng Thị H2, phía bắc giáp đất ông Lô Đức T4, phía nam giáp đất ông Đàm Văn C. Đến năm 1999 gia đình tôi được UBND huyện P cấp sổ Giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình tôi gồm các vị trí: Lô 70 diện tích 0,48ha, lô 76 diện tích 0,70ha, lô 84 diện tích 0,92ha đều thuộc khoảnh 1 tiểu khu B (địa danh Hang hùm). Thửa 11 tờ bản đồ 2 hiện nay tương ứng với lô 84 diện tích 0,92ha tôi đã được cấp sổ xanh năm 1999.
Phần chân thửa đất số 11 giáp với thửa đất số 288 của bà H2, từ khe suối lên nhiều đá tảng, tôi đã trồng cây nhưng lại bị chết, sau đó có thời gian tôi cứ trồng cây xuống gần khe nước ông K lại nhổ bỏ cây con của tôi nên có thời gian để cây tạm mọc rậm rạp. Đến khoảng năm 2018 khi tôi khai thác bãi keo, sau đó trồng bạch đàn, khi con rể tôi đến trồng cây thì xảy ra việc ông K giữ phần đất chân núi phía giáp đất bà H2. Ông K đánh con rể tôi bị thương tích đã bị xử lý trong vụ án hình sự khác. Năm 2019, tôi làm đơn đề nghị địa phương giải quyết, UBND xã Y đã hòa giải và yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng nên từ năm 2019 đến năm 2021 (giai đoạn giải quyết vụ án hình sự và ông K đi chấp hành án) tôi giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp. Nhưng sau khi ông K chấp hành án xong khi về địa phương ông K lại tiếp tục trồng cây lên đất tranh chấp nên tôi khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết.
Trước khi đo đạc tôi ước lượng diện tích tranh chấp khoảng gần 1000m². Quá trình giải quyết vụ án tôi thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông K trả lại cho diện tích 463,1m² cho tôi tại thửa 11 tờ bản đồ 2 xã Y. Tôi xác định diện tích đất tranh chấp là 463,1m² theo các mốc B234DCB trên bản vẽ hiện trạng do tôi chỉ dẫn. Vì vậy nay tôi đề nghị Tòa án buộc ông K trả lại cho diện tích 463,1m² cho tôi tại thửa 11 tờ bản đồ 2 xã Y.
Bị đơn ông Nịnh Ngọc K trình bày: Khu vực đất xung quanh khe nước ở cửa khu H là khu vực đất hoang để rậm rạp không thuộc thửa nào, không ai sử dụng nên tôi đã khai phá và sử dụng từ năm 1998. Tôi đã trồng keo nhưng do thế đất khu vực đó là lòng khe suối, có nước lại nhiều đá tảng rất to nên cây keo bị chết, nên tôi để các cây tạp mọc rậm rạp. Đến năm 2019 ông S cho con rể là anh T5 phá cây tạp của tôi để trồng keo, tôi và anh T5 xảy ra xô sát đánh nhau, tôi phải đi chấp hành án tù về tội Cố ý gây thương tích. Sau khi tôi đi chấp hành án về tháng 6 năm 2022 (dương lịch), tôi lại phát cây tạp, sau đó khoảng 1 tháng tôi trồng cây
bạch đàn. Tôi trồng khoảng 100 cây giống con bạch đàn lai, đến nay còn khoảng 70 – 80 cây bạch đàn cao khoảng 1,4m. Ngoài ra trên đất hiện nay còn có cây tạp tự mọc. Tôi xác định phần đất tranh chấp ông S khởi kiện qua đo vẽ hiện trạng là 463,1m² là của tôi nên tôi không đồng ý trả đất cho ông Nịnh Văn S. Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông S.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Hoàng Thị H trình bày: Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông S, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ông K trả lại cho gia đình bà diện tích 463,1m².
- - Bà Lý Thị M trình bày: Bà nhất trí với ý kiến quan điểm của ông K, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
- - Anh Nịnh Lý Hoàng T1 (con ông K) trình bày: Anh là con ông K và bà M. Anh không có công sức đóng góp gì đối với phần đất tranh chấp giữa ông S và ông K. Trong quá trình giải quyết vụ án anh xác định không có quyền lợi nghĩa vụ gì, nhất trí với mọi ý kiến của ông K và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- - Anh Nịnh Văn T3, Nịnh Thị T2, Nịnh Tiến Q1, Nịnh Văn L (con ông S) trình bày: Các anh chị là con ông S và bà H. Anh chị không có công sức đóng góp gì đối với phần đất tranh chấp ông S đang khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án các anh chị xác định không có quyền lợi nghĩa vụ gì, nhất trí với mọi ý kiến của ông S.
Người làm chứng:
- - Ông Nịnh Quang S1 trình bày: Ông là trưởng xóm giai đoạn 2003 – 2004 thì thấy giữa ông S và ông K chưa xảy ra tranh chấp. Ông thấy ông S có bãi giáp dõng nước (thửa 11), ông K có bãi phía trong dõng nước (thửa 7). Nhưng ông K chỉ trồng cây từ khu vực không có đá trở lên phía đỉnh đổi, còn khu dòng nước có nhiều đá to thì bỏ hoang không ai làm. Ông K có mở một lối đi vị trí giữa bãi của bà H2 (thửa 388) và dõng nước để đi từ đường đất vào thửa 7 ở phía sau. Còn phần đất tranh chấp hiện nay là của ai, giấy tờ như thế nào thì ông không biết.
- - Bà Hoàng Thị H2 trình bày: Ranh giới giữa thửa 388 tờ bản đồ 1 của bà và thửa 11 tờ bản đồ 2 của ông S là một khe nước, ông K không có đất ở khu vực khe nước giáp chân núi của ông S (nếu đứng từ phía đường đất nhìn vào cửa H thì bên phải khe nước là đất ông S, bên trái là đất của bà), thửa đất của ông K ở phía trong. Do từ khe nước đến chân núi của bà có nhiều đá nên bà không trồng cây được, ông K có xin bà một phần ở chân núi giáp khe nước (về phía thửa 388) để san ủi làm lối đi, bà đồng ý. Giữa bà và ông S, ông K không có tranh chấp gì.
- - Ông Nịnh Văn B trình bày: Theo ông được biết thì khu vực dõng nước Hang Hùm không ai sử dụng. Khoảng năm 1998 ông K bắt đầu khai phá phát cây cối để làm ao nhưng do nhiều đá to không làm được. Ông S cũng chỉ trồng cây từ mép đồi trở lên, đến năm 2019 hai bên mới xảy ra tranh chấp.
- - Ông Đàm Văn H1, ông Nịnh Công Í và ông Lý Văn I trình bày: Đất khe
nước hang hùm từ năm 1998 - 1999 các ông thấy ông K phát hoang, trước đây không ai làm. Về giấy tờ đất đai các ông không biết cụ thể là đất của ai.
Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ xác định: Diện tích đất tranh chấp nằm tại thửa 11 tờ bản đồ 2 theo các mốc B234DCB diện tích 463,1m² (số đo các cạnh cụ thể có sơ đồ kèm theo). Kiểm tra hiện trạng thực tế thì đây là khu vực hai bên khe nước chảy ra từ chân núi (nằm giữa thửa 11 và thửa 388 là hai quả đồi cao), hai bên khe nước chủ yếu là các mỏm đá tảng to, địa hình ghồ ghề). Hiện ông K đang giữ và sử sụng 574,2m² theo các mốc 1B2341, tuy nhiên ông S xác định chỉ khởi kiện đòi 463,1m² theo các mốc B234DCB, phần còn lại mốc 1BCD41các bên không tranh chấp.
Trên đất ở khu vực này hiện có 80 cây bạch đàn lai là tài sản do ông K trồng năm 2022, kích cỡ phát triển không đồng đều, chiều cao trung bình khoảng 1m, trong đó trong phần diện tích B234DCB có 71 cây (vị trí 1); trong phần diện tích 1BCD41 có 09 cây (vị trí 2). Ngoài ra trên đất có một số cây tạp tự mọc, các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản định giá tài sản ngày 14/12/2023 xác định giá trị đất tranh chấp loại đất rừng thuộc vị trí số 3 có giá 6.500đ/m². Ở vị trí 1 mốc B234DCB gồm 71 cây bạch đàn có giá 7.800đ/cây = 553.800 đồng; ở vị trí số 2 mốc 1BCD41 gồm 09 cây bạch đàn có giá 7.800đ/cây = 70.200 đồng.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 155, 156, 163, 164 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 95, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nịnh Văn S: Buộc ông Nịnh Ngọc K trả lại cho ông Nịnh Văn S và bà Hoàng Thị H diện tích 463,1m² theo sơ đồ tại các vị trí B234DCB tại thửa 11 tờ bản đồ 2 xã Y cho ông Nịnh Văn S và bà Hoàng Thị H (kèm theo là bản vẽ hiện trạng do Công ty T8 thực hiện).
Ông Nịnh Văn S có trách nhiệm thanh toán giá trị cây cho bà Lý Thị M và ông Nịnh Ngọc K giá trị 71 cây bạch đàn lai trên vị trí trồng năm 2022 trên diện tích 463,1m² theo sơ đồ tại các vị trí B234DCB tại thửa 11 tờ bản đồ 2 là 553.800 đồng (năm trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm đồng). Sau khi ông S thực hiện xong nghĩa vụ thanh toàn tiền thì 71 cây bạch đàn lai nói trên thuộc quyền sở hữu của ông Nịnh Văn S và bà Hoàng Thị H.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ thi hành án chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian
chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nịnh Văn S tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 14.050.000 đồng (mười bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ và chi phí định giá tài sản (đã thanh quyết toán xong).
- Về án phí: Ông Nịnh Ngọc K được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/4/2024 ông Nịnh Ngọc K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị đơn ông Nịnh Ngọc K giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q2, không chấp nhận kháng cáo của ông Nịnh Ngọc K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1.] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nịnh Ngọc K làm trong hạn luật định, ông Nịnh Ngọc K là người cao tuổi nên được miễn nộp nộp dự phí kháng cáo.
Tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng tiếp tục xét xử .
[2]. Xét kháng cáo của ông Nịnh Ngọc K, Hội đồng thấy:
[2.1] Diện tích đất tranh chấp là loại đất rừng sản xuất có diện tích 463,1m² tại vị trí các mốc B234DCB (theo sơ đồ đo vẽ) nằm trong một phần của thửa 11 tờ bản đồ 2 xã Y, địa chỉ thửa đất tại xóm Đ, xã Y, huyện P. Thửa 11 tờ bản đồ 2 tứ
cận giáp các thửa sau: Giáp thửa số 17 của ông Lý Văn I, giáp thửa số 7 của ông Nịnh Ngọc K, giáp thửa 388 tờ bản đồ 1 của bà Hoàng Thị H2; giáp thửa 23 của ông Đàm Văn C và một phần giáp đường đất. Đối chiếu với bản đồ lâm nghiệp là lô 84 diện tích 0,92 ha tại tiểu khu B khoảnh 1.
[2.2] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Ông S trình bày diện tích đất tranh chấp là một phần của thửa 11 tờ bản đồ 2 xã Y. Nguồn gốc thửa 11 là do gia đình ông khai phá sử dụng từ khoảng năm 1980, đến năm 1999 được cấp Sổ giao đất lâm nghiệp theo quyết định số 7990/QĐ-UB ngày 30/12/1999 với tổng diện tích 2,10 ha đất để trồng cây gồm 03 lô trong đó có lô 84 diện tích 0,92 ha tại tiểu khu B khoảnh 1 (ngoài ra còn lô 70 diện tích 0,48ha, lô 76 diện tích 0,70 ha). Trên đất ông S đang trồng bạch đàn lai. Riêng khu vực chân núi giáp khe nước do có nhiều đá nên nhiều khi ông để rậm rạp.
[2.3] Phía ông K cho rằng khu vực giáp khe nước này không nằm trong thửa 11 của ông S, cũng không nằm trong thửa 338 của bà H2 mà là đất bỏ hoang, ông đã khai phá sử dụng từ năm 1998. Thửa đất số 07 tờ bản đồ số 2 diện tích 5.399m² ông đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01517 ngày 11/7/2013, trên đất ông đang trồng cây keo. Trong quá trình sử dụng đất, phần ranh giới giữa thửa đất số 07 của ông K và thửa đất số 11 của ông S không có tranh chấp gì.
[2.4] Qua xem xét thực địa, thấy: Tại khu vực của 03 thửa gồm: Thửa 388 tờ bản đồ số 1 của bà H2; thửa 11 tờ bản đồ số 2 của ông S và thửa 07 tờ bản đồ số 2 của ông K có một cửa hang gọi là Hang Hùm và một khe nước (dõng nước) chảy từ phía cửa H ra phía đường đất và vũng đá (khu vực đất trũng, hai bên là núi, bề mặt nhiều đá tảng).
[2.5] Bà Hoàng Thị H2 là người làm chứng trình bày: Ranh giới giữa thửa 388 tờ bản đồ số 1 của bà và thửa 11 tờ bản đồ số 2 của ông S là một khe nước, ông K không có đất ở khu vực khe nước giáp chân núi của ông S (nếu đứng từ phía đường đất nhìn vào cửa H thì bên phải khe nước là đất ông S, bên trái là đất của bà), thửa đất của ông K ở phía trong. Do từ khe nước đến chân núi của bà có nhiều đá nên bà không trồng cây được, ông K có xin bà một phần ở chân núi giáp khe nước (về phía thửa 388) để san ủi làm lối đi, bà đồng ý. Giữa bà và ông S, ông K không có tranh chấp gì.
[2.6] Theo hai bên trình bày thì khu vực này đã xảy ra tranh chấp giữa ông S và ông K từ nhiều năm, cứ bên này trồng cây thì bên kia lại phá bỏ hoặc ngăn cản. Nhưng từ năm 2018 hai bên xảy ra tranh chấp căng thẳng, năm 2019 UBND xã Y đã hòa giải nhưng không thành và kết luận đề nghị các bên giữ nguyên hiện trạng, không làm phát sinh vấn đề tài sản. Năm 2019 ông K gây thương tích cho anh T5 là con rể ông S và đã bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xét xử, phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nguyên nhân xuất phát từ việc tranh chấp đất khu vực này, đến năm 2022 ông K chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương lại tiếp tục trồng cây trên đất đang tranh chấp.
[2.7] Qua xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy, các vị trí mốc giới B-C-D-4 mà ông S dẫn đạc là nằm giữa khe nước; điểm 2-3 nằm trong thửa 11 của ông S. Phần đất giáp ranh giữa thửa 11 của ông S và thửa 388 của bà H2 là các mốc ABCD4PONA = 285m² hiện nay ông K đang sử dụng làm đường đi về phía thửa đất số 7 của ông K.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Căn cứ quyết định số 7990/QĐ-UB ngày 30/12/1999 của UBND huyện P về việc giao đất lâm nghiệp, ông Nịnh Văn S đã được giao đất để trồng rừng tại lô đất 84 diện tích 0,92 ha tại khoảnh A tiểu khu B. Tại công văn số 05/UBND-DC ngày 05/01/2024 UBND xã Y xác định lô đất 84 diện tích 0,92 ha đối chiếu bản đồ địa chính là thửa 11 tờ bản đồ số 2, diện tích 10.142m², loại đất RSX do ông S quản lý sử dụng.
[3.2] Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ cụ thể diện tích đất tranh chấp hiện nay là 463,1m² theo các mốc B234DCB có vị trí nằm trong thửa 11 tờ bản đồ số 2 xã Y của gia đình ông S. Về ranh giới giữa thửa 11 tờ bản đồ số 2 của ông S và thửa 388 tờ bản đồ số 1 của bà H2 hoàn hoàn phù hợp với lời khai của bà H2 và lời khai của ông S. Kết quả kiểm tra hiện trạng phần đất ông K sử dụng làm đường đi là phù hợp với lời khai của bà H2.
Ông K cho rằng phần đất tranh chấp 463,1m² không nằm trong thửa 11 của ông S cũng không nằm trong thửa 388 của bà H2 mà là đất bỏ hoang là không có căn cứ.
[3.3] Kiểm tra hiện trạng hiện nay thửa 11 tờ bản đồ số 2 ông S đang quản lý sử dụng là 9.417,5m² (theo các mốc giới ABCD4EFGHKLMA), diện tích biến động giảm so với diện tích trên bản đồ địa chính. Tuy nhiên ông S xác định thửa 11 của ông ranh giới ông đã chỉ dẫn theo hiện trạng theo các điểm ABCD4EFGHKLMA, trong đó diện tích đất tranh chấp với ông K hiện nay là 463,1m² theo các vị trí B234DCB ông S yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông S không yêu cầu xem xét giải quyết nội dung gì khác liên quan đến thửa 11, tờ bản đồ 2.
[3.4] Bị đơn ông K không có giấy tờ gì chứng minh quyền sử dụng đối với phần diện tích đất tranh chấp. Do đó cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nịnh Văn S buộc ông Nịnh Văn K1 trả lại diện tích 463,1m² tại các vị trí B234DCB đất tại thửa đất số 11 tờ bản đồ số 2 xã Y cho ông Nịnh Văn S và bà Hoàng Thị H là có căn cứ.
[3.5] Về tài sản trên đất tranh chấp: Gồm 71 cây bạch đàn lai là tài sản do ông K1, bà M trồng năm 2022, kích cỡ phát triển không đồng đều, chiều cao trung bình khoảng 1m, chưa đến kỳ khai thác, theo kết quả định giá 71 cây bạch đàn lai có giá trị 553.800 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Phần diện tích đất tranh chấp phát sinh từ năm 2018, năm 2019 UBND xã Y đã hòa giải nhưng không thành đã kết luận giữ nguyên hiện trạng, không làm phát sinh vấn đề tài sản. Sau đó ông K1 đi
chấp hành hình phạt tù về, đến năm 2022 ông K1 lại tiếp tục trồng cây keo trên phần diện tích đất đang tranh chấp là đã vi phạm, lẽ ra phải buộc ông K1 dỡ bỏ phần tài sản trên diện tích đó. Tuy nhiên số cây này đã cao khoảng 1m, cấp sơ thẩm buộc ông S, bà H thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông K1, bà M 553.800 đồng sau khi ông S thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền thì 71 cây bạch đàn lai nói trên thuộc quyền sở hữu của ông S, bà H cũng phù hợp, ông S bà H không kháng cáo, đã chấp nhận với quyết định của bản án sơ thẩm.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nịnh Ngọc K. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Ông Nịnh Ngọc K là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nịnh Ngọc K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nịnh Ngọc K.
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Văn Quế Nguyễn Thị Thủy | Trần Thị Nhài |
Nơi nhận:
- - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
- - TAND huyện Phú Lương;
- - THADS huyện Phú Lương;
- - Các đương sự;
- - Lưu HS;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Trần Thị Nhài |
Bản án số 114/2024/DSPT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp qsd đất
- Số bản án: 114/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nịnh Ngọc Kỳ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
