|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 08-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Văn Khẹt.
Ông Quàng Văn Mầng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Thào A Trống, sinh ngày 01/01/1975, tại B, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Phát Nam, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A C đã chết và con bà Hờ Thị M, sinh năm 1942; có vợ là Hờ Thị D, đã chết, có 4 con, lớn sinh năm 1999 nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Đều không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Lường Văn C1, sinh ngày 16/9/1994, tại M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn C2 và con bà Lò Thị V, đều đã chết; có vợ là Lò Thị M1, sinh năm 1986, đã ly hôn, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Đều không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Thào Si Đ Nay (Thào A N), sinh năm 2002, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Vàng Thị D1. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, tại bản Pàn, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lường Văn C1, sinh ngày 16/9/1994, địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ của Lường Văn C1 tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp khai là ma túy mua của Thào A T, sinh ngày 01/01/1975, ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La:
01 gói ni lon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng, khai là H để sử dụng và bán; 01 chiếc điện thoại di động, bàn phím màu đen, nhãn hiệu Nokia, cũ qua sử dụng; 100.000, đồng VND gồm 01 tờ tiền loại 50.000, đồng, 02 tờ loại 20.000, đồng và 01 tờ loại 10.000, đồng. Lường Văn C1 khai số tiền này được lợi từ việc mua bán ma túy mà có.
Bắt giữ khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Thào A T, sinh ngày 01/01/1975, ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lường Văn C1, sinh ngày 16/9/1994, địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ tại túi áo ngực bên trái của Thào A T:
01 gói ni lon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng;
01 gói ni lon màu hồng bên trong có gói giấy bạc chứa cục bột màu trắng và mảnh viên nén màu hồng, Thào A T khai là H và hồng phiến để sử dụng và bán kiếm lời;
03 vỏ gói ni lon màu hồng;
Số tiền 3.000.000, đồng VND gồm 15 tờ tiền loại 200.000, đồng do Thào A T khai là tiền bán 02 gói Heroine cho Lường Văn C1 mà có là 400.000, đồng. Số tiền còn lại là của con trai Thào Si Đ Nay, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đưa cho giữ hộ.
01 chiếc điện thoại di động, bàn phím màu đen, nhãn hiệu Nokia, cũ qua sử dụng.
Ngày 24/02/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Lường Văn C1 tự giác giao nộp:
01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,20 gam lấy 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu C;
Vật chứng thu giữ tại túi áo ngực bên trái của Thào A T:
01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,22 gam lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1;
01 gói ni lon màu hồng bên trong có gói giấy bạc chứa mảnh viên nén màu hồng có khối lượng 0,035 gam lấy 0,035 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T2;
01 gói ni lon màu hồng bên trong có gói giấy bạc chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,01 gam lấy 0,01 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T3;
Cơ quan Điều tra ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 598/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu C, T1 và T3 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định C là 0,08 gam; T1 là 0,09 gam; T3 là 0,01 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,43 gam Heroine.
Mẫu ký hiệu T2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,035 gam, khối lượng ma túy thu giữ là 0,035 gam Methamphetamine.
Kết luận giám định số tiền: 3.100.000, đồng là tiền thật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Thào A T và Lường Văn C1 khai nhận: Trước đó khoảng 15 giờ ngày 22/01/2024 tại nhà Thào A T bán cho Lường Văn C1 01 gói Heroine với giá 200.000, đồng. Số ma túy mua được Lường Văn C1 đã sử dụng hết.
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2024 Thào A T bán cho Lường Văn C1 01 gói Heroine với giá 200.000, đồng, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Số tiền 400.000, đồng bán ma túy Thào A T đã đang bị thu giữ.
Lường Văn C1 khai nhận về hành vi mua bán ma túy: Khoảng 13 giờ ngày 23/01/2024 đang ở nhà có người đàn ông không biết tên, địa chỉ đến trao đổi tìm mua 300.000, đồng Heroine Lường Văn C1 nhất trí, hai người đi xe máy đến nhà của Thào A T ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Đến đầu bản Lường Văn Cảm nhận 300.000, đồng của người đàn ông đi vào nhà Thào A T hỏi mua 200.000, đồng được 01 gói Heroine cất giấu trong túi quần bên phải và giữ lại 100.000, đồng được lợi từ việc mua bán ma túy. Sau đó hai người đèo nhau về đến khu vực bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng. Người đàn ông bỏ chạy không bắt giữ được.
Về nguồn gốc số ma túy Thào A T khai ngày 22/02/2024 gặp mua của một người tên N1 không biết họ, địa chỉ 01 gói Heroine và 01 gói hồng phiến với số tiền 550.000, đồng. Sau khi mua được mang về chia nhỏ thành nhiều gói, mục để sử dụng và bán kiếm lời. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác xác định lời khai của Thào A T.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Thào A T và bị cáo Lường Văn C1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 76/CT-VKS-ML ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo: Thào A T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo Lường Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Thào A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Thào A T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
Tuyên bố Lường Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lường Văn Cảm từ 03 năm đến 04 năm tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 túi nilon màu trắng; các vỏ gói nilon; 03 vỏ nilon màu hồng; 0,23 gam Heroine (được niêm phong).
Buộc tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước: Đối với số tiền 400.000, đồng thu giữ của Thào A T và 100.000, đồng thu giữ của Lường Văn C1 đều do mua bán ma túy mà có.
02 chiếc điện thoại di động, bàn phím màu đen, nhãn hiệu Nokia, cũ qua sử dụng thu của các bị cáo, được xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho hai bị cáo.
Trả lại cho Thào A T 01 thẻ căn cước công dân.
Trả lại cho anh Thào Si Đ Nay số tiền 2.600.000, đồng. Được xác định là tài sản của gia đình đưa cho Thào A T giữ, không sử dụng đi mua ma túy.
Đối với người đàn ông có hành vi mua bán ma túy với Lường Văn C1, khi bị phát hiện đã bỏ chạy, không có tên địa chỉ, không có căn cứ để điều tra.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 phải chịu mỗi người 200.000, đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 thừa nhận: Khoảng hồi 15 giờ 00 phút ngày 24/02/2024, tại nhà ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La Thào A T đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,20 gam cho Lường Văn C1 để lấy 200.000, đồng. Đồng thời Thào A T tàng trữ trái phép 0,23 gam Heroine và 01 gói Methamphetamine có khối lượng là 0,035 gam để sử dụng và bán thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Trước đó Ngày 22/02/2024 tại nhà Thào A T bán cho Lường Văn C1 01 gói Heroine với giá 200.000, đồng. Số ma túy mua được Lường Văn C1 đã sử dụng hết.
Bị cáo Lường Văn C1 thừa nhận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2024 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,20 gam để hưởng lợi 100.000, đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Thào A T đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b “phạm tội 02 lần trở lên” khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Do Thào A T cất giữ hai chất ma túy, cần căn cứ Điều 4 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, để tính tổng khối lượng của hai chất như sau: Số Methamphetamine có khối lượng 0,035 gam + số Heroine có khối lượng 0,43 gam = 0,465 gam ma túy.
Bị cáo Lường Văn C1 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo Thào A T phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo. Bị cáo Lường Văn C1 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt tương xứng nhằm giáo dục bị cáo.
Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Thào A T và bị cáo Lường Văn C1 đều có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy, đều chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 khai ra hành vi phạm tội trước đó là tự thú, nên bị cáo Thào A T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Lường Văn C1 khai ra hành vi mua bán ma túy của Thào A T là tình tiết tích cực hợp tác trong việc phát hiện tội phạm được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 túi nilon màu trắng; các vỏ gói nilon; 03 vỏ nilon màu hồng; 0,23 gam Heroine (được niêm phong).
Tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước: Đối với số tiền 400.000, đồng của Thào A T và 100.000, đồng của Lường Văn C1 đều do mua bán ma túy mà có.
Đối với 02 chiếc điện thoại di động, bàn phím màu đen, nhãn hiệu Nokia, cũ qua sử dụng thu của các bị cáo, được xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho hai bị cáo.
Trả lại cho Thào A T 01 thẻ căn cước công dân.
Trả lại cho anh Thào Si Đ Nay số tiền 2.600.000, đồng. Được xác định là tài sản của gia đình anh Thào Si Đ Nay đưa cho bị cáo giữ, Thào A Trống không mang đi mua ma túy.
Về nguồn gốc ma túy Thào A T khai mua của một người đàn ông tên N1 không biết họ, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Thào A T, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b “phạm tội 02 lần trở lên” khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Thào A T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/02/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Lường Văn C1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Lường Văn C1 30 (ba mươi) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/02/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 túi nilon màu trắng; các vỏ gói nilon; 03 vỏ nilon màu hồng; 0,23 (không phẩy hai mươi ba) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 24/02/2024).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước:
Số tiền 400.000, đồng (bốn trăm nghìn đồng) của Thào A T do bị cáo mua bán ma túy mà có;
Số tiền 100.000, đồng (một trăm nghìn đồng) của Lường Văn C1 do bị cáo mua bán ma túy mà có.
Trả lại cho anh Thào Si Đ Nay (Thào A N) số tiền 2.600.000, đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
(được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 21/5/2024).
Trả lại cho:
Thào A Trống 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, số IMEL1: 353101111571575, kèm theo 01 sim số thuê bao 0825036977, cũ qua sử dụng;
Trả lại cho Thào A T 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Thào A T cấp ngày 09/6/2023. Nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH;
Lường Văn Cảm 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, số IMEL1: 357705108750509, số IMEL2: 357705108750517, kèm theo 01 sim số thuê bao 0335913960, cũ qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Thào A T và Lường Văn C1 phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/7/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án Thào A Trống - Lường Văn Cảm phạm tội MBTTCMT
