Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.

Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Văn D, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1985; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giáp Văn C và bà Vi Thị Đ; Có vợ là Hứa Thị C1 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nông Văn N, sinh năm 1961 (đã chết).

Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện hợp pháp của ông Nông Văn N:

  1. Bà Vi Thị T, sinh năm 1961 (vắng mặt).
  2. Anh Nông Văn V, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  3. Anh Nông Văn C2, sinh năm 1987 (có mặt).
  4. Chị Nông Thị N1, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Đều cư trú: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bà Vi Thị T, anh Nông Văn V, chị Nông Thị N2 ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Nông Văn C2.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lăng Văn S, sinh năm 1971 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn K, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 4, Trại giam N3.

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1994 (có mặt).
  2. Anh Tô Thị V1, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Đều cư trú: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Anh Hoàng Văn C3, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giáp Văn D là người đã có Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 21/01/2020. Khoảng 08 giờ ngày 07/01/2024, Giáp Văn D điều khiển xe ô tô tải đổ ben nhãn hiệu Cửu Long, loại xe 3,5 tấn, biển kiểm soát 98H-3002, màu sơn xanh chở cát đi theo hướng từ xã T, huyện L đến xã H, huyện L. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc địa phận khu H, thôn H, xã H là đoạn đường xuống dốc, cua về bên phải, D bấm còi và điều khiển đi đến ngang dốc D phát hiện thấy ông Nông Văn N đang đi bộ ở phần lề đường bên phải có gánh theo quang gánh đi cùng chiều và có 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe Vios màu sơn đen, biển kiểm soát 30G-259.25 do anh Hoàng Văn C3 điều khiển đi ngược chiều. Lúc này chiếc xe ô tô Vios đi sát vào lề đường bên phải theo hướng di chuyển và dừng lại để nhường đường cho xe ô tô do D điều khiển, còn ông N đang đi bộ ngang với đuôi xe ô tô Vios. Khi gặp ông N, D đã phanh xe ô tô nhưng do đường dốc xe không dừng lại được tại chỗ mà tiếp tục di chuyển nên phần ốp kim loại bên phải đầu xe và mặt ngoài bên phải cản trước của xe ô tô do D điều khiển đã va chạm với dây quang gánh do ông Nông Văn N đang gánh trên vai, hậu quả ông N bị ngã xuống mương (mương được đổ đá và xi măng ở phần lề đường bên phải theo hướng đi của ông N), xe ô tô tải của D tiếp tục di chuyển xuống dốc, dừng đỗ cách vị trí xảy ra tai nạn 89,8m. Sau khi tai nạn xảy ra ông N bị thương phải đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện L, do bị thương nặng ông N được đưa đến Bệnh viện H để cấp cứu, đến ngày 23/01/2024 chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị. Ngày 31/01/2024, ông N được đưa về điều trị tại gia đình. Đến 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, ông Nông Văn N chết.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/01/2024 xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn thuộc địa phận khu H, thôn H, xã H, huyện L, là đoạn đường dốc xuống theo hướng thôn Đ đi thôn K, xã H cong về bên phải. Bề mặt đường trải bê tông xi măng. Lòng đường rộng 305cm. Hai bên lề đường là đường đất. Đoạn lề đường phải có chiều rộng 90cm, bên trong lề đất là mương thoát nước được đổ đá, xi măng. Chiều rộng mặt mương là 110cm, đáy rộng 60cm, mương dạng hình thang. Lấy cột có gắn biển “Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của mỗi công dân” làm mốc.

Tại vị trí kí hiệu số (1) là hệ thống mảnh nhựa vỡ màu xanh trên diện (1,9x1,7)m; đầu điểm vỡ cách mép chuẩn 0,75m, cách mốc 5,1m; cuối vị trí mảnh vỡ cách mép chuẩn 1,3m, cách mốc 10,9m.

Tại vị trí kí hiệu số (2) là dấu vết máu tại mương thoát nước kích thước trên diện (0,5x0,6)m; tâm vết cách mép chuẩn 1,2m, cách mốc 7,5m.

Tại vị trí kí hiệu số (3) là dụng cụ và đồ vật cá nhân ở tại mương thoát nước, lề đất; kích thước trên diện (3x3,4)m; tâm vị trí số (3) cách mép chuẩn 1,4m, cách mốc 9,3m.

Tại vị trí kí hiệu số (4) là dấu vết máu dưới mương thoát nước kích thước trên diện (1,3x0,85)m; tâm vết cách mép chuẩn 1,35m, cách tâm vết số 2 là 1,4m, cách mốc 8,8m.

Tại vị trí kí hiệu số (5) là xe ô tô biển số 95H-3002 trong trạng thái đỗ. T1 trục sau bên trái xe cách cuối vết số (1) là 89,8m, cách mép chuẩn 0,7m; tâm trục trước bên trái cách mép 0,7m; tâm trục trước bên phải cách mốc 1,5m.

Cơ quan điều tra đã thu mẫu máu tại vị trí số (2), vị trí số (4); tạm giữ 01 (một) xe ô tô biển số 98H-3002; thu 01 (một) đòn gánh bằng gỗ; 02 (hai) quang gánh; 02 (hai) chậu nhựa màu xanh; 01 (một) chậu nhựa màu trắng; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai; 01 (một) mũ cọ; 01 (một) quận lưới đánh cá.

Tại Biên bản làm việc ngày 07/01/2024 kiểm tra phương tiện gây ra tai nạn xác định: Vượt quá khối lượng hàng hóa chuyên chở cho phép là 168,55% (5.815kg), Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe hết hạn từ tháng 8/2015. Tiến hành đo nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy của Giáp Văn D, kết quả đo âm tính.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 08/01/2024 của Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm phương tiện là xe ô tô nhãn hiệu Cửu Long, loại xe tải tự đổ, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98H-3002 có các dấu vết sau:

- Dấu vết trên phương tiện: Cụm đèn trước bên phải có dấu vết nứt vỡ, khuyết nhựa trên diện (24x21)cm; Ốp kim loại bên phải đầu xe có dấu vết trượt xước mất sơn, hướng từ trước ra sau trên diện (18x04)cm.

- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi, lốp, gương, gạt nước hoạt động bình thường.

Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 05/02/2024 của Trung tâm Y tế huyện L xác nhận: ông Nông Văn N vào viện lúc 09 giờ 58 phút ngày 07/01/2024, ra viện 10 giờ 20 phút ngày 07/01/2024, tình trạng thương tích lúc vào viện: hôn mê, thở ngáy. Vùng đầu mặt có nhiều vết thương.

Tại Giấy chứng thương ngày 29/02/2024 của Bệnh viện H chứng nhận ông Nông Văn N vào viện ngày 07/01/2024, điều trị đến ngày 23/01/2024 thì ra viện. Tình trạng lúc vào viện: Vết thương trán kích thước (02x01)cm. Hàm mặt sưng nề, sây sát. Cổ Collier. CT Scanner sọ não: Các ổ đụng dập chảy máu nhu mô não thùy trán – thái dương – chẩm phải và trán trái kèm viền phù não xung quanh. Xuất huyết dưới nhên trong các rãnh cuộn não thùy trán trái, thái dương 2 bên và đỉnh – chẩm phải, trong bể trước chung não, lều tiểu não 2 bên. Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương phải. Tụ máu trong sừng chẩm não thất bên 2 bên. Gãy xương trán trái lan vào các thành xoang trán trái, trần và các thành xoang sàng, trần ổ mắt, thành ngoài ổ mắt, cánh lớn xương bướm cùng bên. Gãy phần trai xương thái dương phải. Phù nề phần mềm quanh ổ mắt phải. CT Scanner hàm mặt: Gãy xương hàm trên lệch phải lan vào mỏm huyệt răng. Gãy cung tiếp gò má 2 bên. Gãy xương mũi. Gãy cánh lớn xương bướm 2 bên. Gãy mỏm chân bướm trong – ngoài trái và mỏm chân bướm ngoài phải. Gãy trần, các thành ổ mắt trái, gãy thành trong – ngoài ổ mắt phải. Gãy thành trong xoang hàm phải, trần sàng và các thành xoang sàng 2 bên. Gãy thành trước – sau xoang hàm trái. Tụ máu trong hệ thống xoang. Phù nề phần mềm quanh ổ mắt phải. Dẫn lưu màng phổi trái ra ít máu khí. Siêu âm: Hình ảnh theo dõi tràn dịch khí khoang màng phổi trái. X Quang: Hình ảnh nhu mô phổi phải ứ khí. Tràn dịch màng phổi trái. Tràn khí dưới da thành ngực trái. Gãy 1/3 ngoài xương đòn trái có mảnh rời. Gãy cung bên xương sườn 3 – 6 bên trái.

Tại Giấy ra viện ngày 31/01/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: ông Nông Văn N vào viện lúc 16 giờ 54 phút ngày 23/01/2024, ra viện lúc 14 giờ ngày 31/01/2024; chẩn đoán: viêm phổi/ Hậu phẫu đa chấn thương- Mở khí quản – J18.

Tại Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 07/3/2024 của Cơ quan điều tra khám nghiệm tử thi Nông Văn N, thể hiện như sau:

- Khám ngoài: Vùng đỉnh chẩm phải có diện xây xát da đã đóng vẩy, kích thước 07x05cm; vùng cổ trước có vết mở thông lỗ khí quản kích thước 1,2x01cm; trên đường nách giữa bên trái có vết đặt dẫn lưu khoang màng phổi đã liền sẹo được khâu bằng một mũi chỉ; cổ chân, mặt trong, mu bàn chân trái có diện dập, rách, xây xát da đã đóng vảy và liền sẹo, kích thước 23x13cm; Đốt III ngón 1, 2, 3 bàn chân phải có diện dập rách da đã liền sẹo, kích thước 07x03cm

- Khám trong: chọc hút khoang lồng ngực bằng bơm kim tiêm không thấy có máu, tại vị trí hõm ức thu 05ml máu; kiểm tra vùng cổ trước vị trí vết đặt thông lỗ khi quản thấy xung quanh phù nề, thông vào khí quản bên trong có nhiều dịch nhầy đục chảy ra.

Tại Kết luận giám định số 601/KL-KTHS ngày 29/3/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết trượt xước kim loại, mất sơn, hướng từ trước ra sau ở cạnh trước ốp kim loại bên phải đầu xe và mặt ngoài bên phải cản trước của xe ô tô biển kiểm soát 98H-3002 (ảnh 5, 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, gãy sợi mây tạo rãnh hằn chếch chéo, bề mặt bám dính chất màu xanh (dạng sơn) ở đầu trên dây quang gánh do ông Nông Văn N mang theo khi xảy ra tai nạn (ảnh 5, 6 bản ảnh kiểm tra đồ vật tài sản).
  2. Dấu vết rách, mài trượt nhựa, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trái sang phải ở cạnh ngoài chiếc dép tổ ong loại bàn chân bên trái của ông Nông Văn N mang theo khi xảy ra tai nạn được hình thành do vật tày có bề mặt là cao su màu đen tác động, đẩy trượt hướng từ trái sang phải tạo nên.
  3. Không xác định được cơ chế hình thành dấu vết trên 02 chậu nhựa màu xanh (do không trực tiếp nghiên cứu, đánh giá đặc điểm của các mảnh nhựa vỡ trên hiện trường).
  4. Không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98H-3002 với các đồ vật do ông Nông Văn N mang theo khi xảy ra tai nạn qua dấu vết hiện trường.
  5. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 98H-3002 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Tại Kết luận giám định số 1664/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Nguyên nhân chết của ông Nông Văn N do đa chấn thương không hồi phục: Chấn thương sọ não; chấn thương hàm mặt; chấn thương ngực kín.

- Cơ chế hình thành dấu vết:

+ Các tổn thương sây sát, dập rách da đã đóng vảy và liền sẹo được hình thành do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn theo chiều hướng khác nhau tạo nên.

+ Vết đặt nội khí quản, vết đặt dẫn lưu khoang màng phổi được hình thành trong quá trình cấp cứu và điều trị tại bệnh viện.

+ Đụng dập tụ máu nhu mô não rải rác hai bên, chảy máu dưới màng cứng trán trái, chảy máu màng mềm quanh cầu quanh cuống não. Gãy cung tiếp xương gò má. Gãy xương đòn và xương sườn được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.

Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 389/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định mẫu máu thu tại hiện trường.

Tại Kết luận giám định số 602/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trên mẫu được niêm phong trong các phong bì ký hiệu “2”, “4” đều có máu người, nhóm máu O (phù hợp với nhóm máu của ông Nông Văn N).

Tại Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận về giá của tài sản mà ông N mang theo khi xảy ra tai nạn bị hư hỏng, cụ thể: 02 chiếc chậu nhựa là 20.000 đồng; 01 chiếc quang là 0 đồng.

Ngày 07/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu giữ 01 đoạn video, được trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios màu sơn đen, biển kiểm soát 30G-259.25 (thời gian hiển thị trên video từ 08 giờ 19 phút 05 giây đến 08 giờ 22 phút 04 giây ngày 07/01/2024 đúng với thời gian thực tế). Ngày 20/4/2024, Cơ quan điều tra cho Giáp Văn D xem đoạn video camera hành trình của xe ô tô Vios thu giữ được xác định: có ghi lại hình ảnh ông Nông Văn N đi bộ cùng chiều với xe ô tô biển kiểm soát 98H-3002 do Giáp Văn D điều khiển.

Ngày 24/4/2024, Giáp Văn D giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 (một) bản phô tô công chứng Giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 21/01/2020.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra xác định: nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do lỗi của Giáp Văn D điều khiển ô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát, không chấp hành quy định về khoảng cách, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi gặp người đi bộ là ông Nông Văn N. Hành vi của Giáp Văn D đã vi phạm vào khoản 3 Điều 4; khoản 1, khoản 3, khoản 4, khoản 8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

“Điều 4. Nguyên tắc chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách khi điều khiển phương tiện trên đường bộ:

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ:

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
  2. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;
  3. Qua cầu, cống hẹp; đi qua đập tràn, đường ngầm, hầm chui; khi lên gần đỉnh dốc, khi xuống dốc;
  4. Tránh xe chạy ngược chiều hoặc khi cho xe chạy sau vượt; khi có tín hiệu xin đường, tín hiệu khẩn cấp của xe đi phía trước;"

Về vật chứng vụ án: Do D điều khiển xe chở vượt quá khối lượng hàng hóa cho phép; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe hết hạn từ tháng 8/2015. Vì vậy ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển chiếc xe này đến Công an huyện L để xử lý theo quy định. Ngày 24/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho gia đình ông Nông Văn N: 01 (một) đòn gánh bằng gỗ tre màu nâu, dài 125cm, chiều ngang 05cm; 02 (hai) quang gánh bằng cây gỗ dạng sợi màu nâu; 02 (hai) chậu nhựa màu xanh bị vỡ, đường kính 55cm; 01 (một) chậu nhựa màu trắng đường kính 37,5cm; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu nâu; 01 (một) mũ cọ màu nâu, đường kính 40cm; 01 (một) cuộn lưới đánh cá.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Giáp Văn D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn ông Nông Văn N số tiền là 270.000.000 đồng, anh Nông Văn C2 là đại diện gia đình nạn nhân không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D.

* Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 111/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Giáp Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Giáp Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Người đại diện của bị hại trình bày: Không có ý kiến hay yêu cầu gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Giáp Văn D từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về án phí.

Bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo Giáp Văn D trình bày: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều được triệu tập hợp lệ, có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Tại phiên tòa, bị cáo Giáp Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 07/01/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc khu H, thôn H, xã H, huyện L; Giáp Văn D đã điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Cửu Long, loại xe 3,5 tấn, biển kiểm soát 98H-3002, màu sơn xanh theo hướng từ xã T, huyện L đến xã H, huyện L. Do không chú ý quan sát, không chấp hành quy định về khoảng cách, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, xe ô tô do D điều khiển đã va chạm với ông Nông Văn N đang đi bộ ở lề đường bên phải cùng chiều. Hậu quả ông N bị thương nặng phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H và Bệnh viện đa khoa tỉnh B, đến ngày 06/3/2024, ông Nông Văn N chết. Hành vi nêu trên của bị cáo Giáp Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Giáp Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng con người, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo điều khiển ô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát, không chấp hành quy định về khoảng cách, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi gặp người đi bộ là ông Nông Văn N. Hành vi của Giáp Văn D đã vi phạm vào khoản 3 Điều 4; khoản 1, khoản 3, khoản 4, khoản 8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, hậu quả làm bị hại chết. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt theo Bộ luật Hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Giáp Văn D có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; người đại điện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét toàn bộ nội dung vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người dân lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách như mức đề nghị của Viện kiểm sát, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng có đủ điều kiện cải tạo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp gì khác nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Giáp Văn D đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng). Người đại diện của bị hại không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe ô tô tải đổ ben nhãn hiệu Cửu Long, loại xe 3,5 tấn, biển kiểm soát 98H-3002, màu sơn xanh do chở vượt quá khối lượng hàng hóa cho phép; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe hết hạn từ tháng 8/2015. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Công văn số 678/ĐCSHS ngày 05/7/2024, chuyển chiếc xe này đến Công an huyện L để xử lý theo quy định. Đối với 01 (một) đòn gánh bằng gỗ tre màu nâu, dài 125cm, chiều ngang 05cm; 02 (hai) quang gánh bằng cây gỗ dạng sợi màu nâu; 02 (hai) chậu nhựa màu xanh bị vỡ, đường kính 55cm; 01 (một) chậu nhựa màu trắng đường kính 37,5cm; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu nâu; 01 (một) mũ cọ màu nâu, đường kính 40cm; 01 (một) cuộn lưới đánh cá đã được Cơ quan điều tra trả lại cho gia đình bị hại theo Quyết định xử lý vật chứng số 980/QĐ-CSĐT ngày 24/6/2024 là có căn cứ.

[10] Về án phí: Bị cáo Giáp Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Giáp Văn D 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Giáp Văn D.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Giáp Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
  • - Huyện ủy Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người đại diện của bị hại;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ ngày 07/01/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc khu H, thôn H, xã H, huyện L; Giáp Văn D đã điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Cửu Long, loại xe 3,5 tấn, biển kiểm soát 98H-3002, màu sơn xanh theo hướng từ xã T, huyện L đến xã H, huyện L. Do không chú ý quan sát, không chấp hành quy định về khoảng cách, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, xe ô tô do D điều khiển đã va chạm với ông Nông Văn N đang đi bộ ở lề đường bên phải cùng chiều. Hậu quả ông N bị thương nặng phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H và Bệnh viện đa khoa tỉnh B, đến ngày 06/3/2024, ông Nông Văn N chết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger