TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày: 06 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Di
Ông Nguyễn Bá Lộc
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Tất Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Quang C, sinh năm: 1981 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); bị cáo có vợ là chị Đoàn Thị Cẩm V và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Bản án số 48/2023/HSST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2024; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 90/2018/HSST ngày 17/7/2018 của TAND huyện Long Điền xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong ngày 16/01/2019;
- Bản án số 35/2020/HSST ngày 07/7/2020 của TAND huyện Đất Đỏ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong ngày 11/3/2021.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/5/2024, đến ngày 17/5/2024 chuyển sang tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Vũ Văn P, sinh năm: 1984. (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1981. (có đơn xin vắng mặt).
HKTT: Khu phố I, thị trấn T, TX. H, tỉnh Bình Định.
Chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 13/5/2024, Võ Quang C điều khiển xe mô tô biển số 72AK-029.64 đi từ bến xe L thuộc xã P, huyện L đến khu phố H, thị trấn L, huyện L thì phát hiện kho vật liệu xây dựng “Thảo Đăng” của ông Đoàn Văn M1 đang mở cửa, không có người trông coi, C liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. C dừng xe trước cửa nhà kho, đi vào bên trong thấy 01 cái máy cắt sắt hiệu Hitachi 3T5 và 01 máy hàn que nhãn hiệu Weldcom 250W của ông Vũ Văn P đang để ở sàn nhà kho liền lấy trộm mang ra ngoài đưa lên xe chở đi. C mang tài sản trộm cắp được đến bán cho ông Nguyễn Văn T tại cửa hàng “Điện cơ T” thuộc ấp H, xã P, huyện L được số tiền 1.300.000đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp C sử dụng tiêu xài cá nhân hết 246.000đồng, còn lại 1.054.000đồng.
Sau khi phát hiện mất tài sản, ông Vũ Văn P đến Cơ quan Công an trình báo vụ việc. Ngày 14/5/2024, C đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Cơ quan điều tra thu giữ: Số tiền 1.054.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 72AK-029.64 nhãn hiệu Daelimikd, màu sơn đỏ. Qua xác minh xác định ông Võ Văn L (sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện Đ) đứng tên giấy đăng ký xe mô tô trên, nhưng ông L đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ ở đâu không làm việc được. Còn C khai vào tháng 4/2024, C mua lại chiếc xe trên của người đàn ông (không rõ nhân thân, địa chỉ) tại tiệm game bắn cá ở thành phố V với giá 700.000 đồng nhưng không có giấy đăng ký xe. Cơ quan CSĐT Công an huyện đã ra thông báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô trên nhưng không có kết quả. Hiện các vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
- Đối với 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Hitachi 3T5 và 01 máy hàn que nhãn hiệu Weldocom 250W, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trao trả lại cho chủ sở hữu là ông Vũ Văn P.
- Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản được lưu theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Giá trị tài sản tại thời điểm ngày 13/5/2024 gồm: 01 máy cắt hiệu Hitachi 3T5, đã qua sử dụng, có giá trị 1.730.000đồng; 01 máy hàn que nhãn hiệu Weldcom 250W, đã qua sử dụng, có giá trị 1.660.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.390.000đồng (ba triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Vũ Văn P sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì khác; Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền đã bỏ ra mua máy cắt, máy hàn nêu trên là 1.300.000đồng.
Tại bản cáo trạng số: 119/CT-VKSLĐ ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Võ Quang C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Võ Quang C mức án từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 1.300.000đồng (trong đó có 1.054.000đồng hiện được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý).
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 01 (một) xe mô tô biển số 72AK-029-64 nhãn hiệu Daelimikd, màu sơn đỏ, không tìm được chủ sở hữu đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
+ Bị cáo Võ Quang C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thấy mình không bị oan, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về với các con.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Ông Vũ Văn P và ông Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy đơn của ông P và ông T đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Quang C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, tại kho vật liệu xây dựng “Thảo Đăng” thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, Võ Quang C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy cắt sắt hiệu Hitachi 3T5 và 01 máy hàn que nhãn hiệu Weldcom 250W của ông Vũ Văn P, với tổng giá trị tài sản theo Kết luận định giá là 3.390.000đồng. Như vậy, hành vi trên của Võ Quang C đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 119/CT-VKSLĐ ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố bị cáo Võ Quang C là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có 01 tiền án và 02 nhân thân về tội “trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong các bản án, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý. Điều này cho thấy bị cáo là người xem thường pháp luật, lười lao động, thích hưởng lợi trên sức lao động của người khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên căn cứ điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Vũ Văn P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xét đến; Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền đã bỏ ra mua máy cắt, máy hàn nêu trên là 1.300.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của ông T là có căn cứ đúng quy định nên chấp nhận. Tuy nhiên, hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền đang quản lý số tiền 1.054.000đồng là số tiền bán máy cắt, máy hàn còn lại sau khi bị cáo tiêu xài cá nhân. Do đó, ông T có quyền, nghĩa vụ liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền để nhận lại số tiền 1.054.000đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho ông T số tiền còn lại là 246.000đồng, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 1.054.000đồng là tiền của bị cáo bán máy cắt, máy hàn cho ông T còn lại sau khi đã tiêu xài cá nhân, nên trả lại cho ông T.
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 72AK-029-64 nhãn hiệu Daelimikd, màu sơn đỏ, không tìm được chủ sở hữu, đồng thời đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước;
- Đối với 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Hitachi 3T5 và 01 máy hàn que nhãn hiệu Weldcom 250W, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trao trả lại cho chủ sở hữu là ông Vũ Văn P, nên HĐXX không xét đến.
- Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản, nên tiếp tục được lưu theo hồ sơ vụ án.
[9] Đối với ông Nguyễn Văn T khi mua 01 máy cắt sắt hiệu Hitachi 3T5 và 01 máy hàn que nhãn hiệu Weldcom 250W do bị cáo mang đến bán không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[10] Án phí: Bị cáo Võ Quang C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Quang C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt: Võ Quang Chiến 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.
- Buộc bị cáo Võ Quang C có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn T số tiền là 246.000đồng (hai trăm bốn mươi sáu ngàn đồng).
- Ông Nguyễn Văn T được nhận lại số tiền 1.054.000đồng (một triệu không trăm năm mươi bốn ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002237 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 72AK-029-64 nhãn hiệu Daelimikd, màu sơn đỏ.
(Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng số 111/BB-CCTHADS ngày 16/7/2024).
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản.
Về án phí: Buộc bị cáo Võ Quang C phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/8/2024), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghịa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Dung |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Quang C- Trộm cắp tài sản
