|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06/5/2024
V/v: “ Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2774/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 124/2024/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983
- Bị đơn: Ông Trần Tiến T, sinh năm 1981
Cùng nơi cư trú: C, khu phố C, phường H, Tp ., tỉnh Đồng Nai
(bà H vắng mặt có lý do, ông T vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Chúng tôi tự nguyện đăng kí kết hôn ngày 21 tháng 12 năm 2004 và được Ủy ban nhân dân phường H, Tp., tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận ký kết hôn số 242 ngày 21/12/2004. Thời gian đầu chúng tôi sống với nhau hạnh phúc và có 02 con chung. Nhưng sau đó vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm, quan điểm sống không đồng nhất, vì vậy vợ chồng tôi thường xuyên cãi vã, xung đột và không tôn trọng lẫn nhau. Do không muốn gia đình đổ vỡ vợ chồng tôi đã nhiều lần ngồi lại với nhau tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng tất cả đều không có kết quả. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Trần Tiến T.
- Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung:
- Trần Thu H1, sinh ngày 08/08/2002
- Trần Quỳnh N, sinh ngày 27/04/2005
Hiện nay các con đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Tiến T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc tham gia tố tụng và cung cấp tài liệu chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông T không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt có lý do. Bị đơn ông Trần Tiến T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H.
Về con chung: Có 2 con chung là cháu Trần Thu H1, sinh ngày 08/08/2002 và cháu Trần Quỳnh N, sinh ngày 27/04/2005. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không xem xét.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn ông Trần Tiến T, ông T là bị đơn cư trú tại số C, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Ông Trần Tiến T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo công khai việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng đều vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị H có đơn xin vắng mặt có mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207, Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị H và ông Trần Tiến T tự nguyện đăng kí kết hôn ngày 21 tháng 12 năm 2004 và được Ủy ban nhân dân phường H, Tp ., tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận ký kết hôn số 242 ngày 21/12/2004 nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình của vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không đạt được. Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau.
Xét yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Mặc dù biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B ngày 09/01/2024 cung cấp thông tin địa phương không nắm rõ về mâu thuẫn vợ chồng, tuy nhiên quá trình Tòa án tiến hành thủ tục công khai chứng cứ, hoà giải, xét xử, ông T không đến Toà án làm việc chứng tỏ ông đã bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình không quan tâm đến việc hàn gắn gia đình, bà H cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với ông T. Do đó, Toà án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Tiến T.
Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà H, ông T có kéo dài cũng không đem đến hạnh phúc, ông T không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt; Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H cho bà H được ly hôn với ông T.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông T1 có 2 con chung là cháu Trần Thu H1, sinh ngày 08/08/2002 và cháu Trần Quỳnh N, sinh ngày 27/04/2005. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: do chưa có ý kiến trình bày của ông T về tài sản và nợ chung nên giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên có yêu cầu.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 207, Điều 208; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 53, 56, khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H, xử cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Tiến T.
- Về con chung: Con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét.
- Về nợ chung, tài sản chung : giải quyết bằng vụ kiện khác khi các bên có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0009760 ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H, ông Trần Tiến T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Hà Vân |
Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Nguyễn Thị Hà - Trần Tiến Thành
