|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 114/2024/HSST Ngày: 05-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa
2. Bà Vũ Thị Phương Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Đỗ Đức T, sinh năm 1996 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú (Viết tắt là HKTT) và chỗ ở: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Viết tắt là BR – VT); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Đỗ Ngọc K (đã chết); Họ và tên mẹ: Trịnh Thị S; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 06/12/2023 (Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B- có mặt).
- Hồ Văn P, sinh năm: 1998 tại: Bình Thuận; HKTT: Tổ C, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở: thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh BR – VT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Thợ sửa điện thoại; Trình độ học vấn: 3/12; Họ và tên cha: Hồ Văn N, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1970; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không (đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt).
Bị hại:
- Chị Nguyễn Trần Ý N1, Sinh năm: 1982; Nơi thường trú: tổ A, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh BR-VT (Vắng mặt);
- Bà Đỗ Tuyết T1, sinh năm: 1979, HKTT: thôn T, xã K, huyện C, tỉnh BR – VT (Vắng mặt);
- Chị Lý Thị L, Sinh năm: 1992, HKTT: Thôn D, xã S, huyện C, tỉnh BR – VT (Vắng mặt);
-
Cháu Trần Kỳ Linh Đ, sinh ngày 14/3/2007, HKTT: Hẽm 72, Tổ D, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh BR-VT (Vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của cháu Linh Đ1: Bà Trần Thị H, sinh năm 1986 (là mẹ ruột); HKTT: Hẽm 72, Tổ D, khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh BR-VT (Vắng mặt);
-
Cháu Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 12/9/2007, HKTT: Tổ 2, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh BR-VT (Vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của cháu Khánh L1: Bà Lê Thị P1, sinh năm 1983 (là mẹ ruột); HKTT: Tổ 2, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh BR-VT (Vắng mặt);
- Chị Lê Thị Kim L2, sinh năm: 2003, HKTT: khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh BR-VT (Có mặt);
- Chị Trần Thị Kim G, sinh năm: 1987, HKTT: Tổ A, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh BR – VT (Vắng mặt);
- Chị Châu Thị M, sinh năm: 1987, HKTT: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Thành L3, sinh năm 1990; chỗ ở: Tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2023, Đỗ Đức T đã thực hiện 09 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố B và thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
Khoảng 13 giờ ngày 20/9/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Future fi màu đen, biển số 72E1-705.21, số khung: RLHJC 7639KY051958, số máy: JC76E1074728 (Trọng tháo biển số) đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. T đi đến Quốc lộ E khu vực Vòng xoay H, xã H thì phát hiện chị Nguyễn Trần Ý N1, Sinh năm 1982; đang điều khiển xe mô tô di chuyển từ thành phố B đi huyện C. T phát hiện chị N1 để điện thoại hiệu Iphone XSMAX bản quốc tế 64GB, màu bạc, số I: có 04 số cuối: 1933 trong túi quần và hở một phần điện thoại ra ngoài nên T đi theo đến Vòng xoay mới thuộc xã H thì T đưa tay phải giật điện thoại trong túi quần của chị N1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Trọng bán điện thoại trên cho một cửa hàng mua bán điện thoại (không rõ địa chỉ) được 700.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 290/KL - HĐĐGTS ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố B (Viết tắt là Hội đồng định giá tài sản thành phố B) kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX bản quốc tế 64GB, màu bạc, số I: có 04 số cuối: 1933 có giá trị 6.330.000 đồng.
Vụ thứ 2:
Khoảng 10 giờ ngày 27/9/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1 – 705.21 đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đến đường P, khu phố D, phường P, T phát hiện bà Đỗ Tuyết T1, sinh năm 1979, điều khiển xe mô tô hiệu PIAGO loại VESPA màu trắng biển số 72F1 – 711.66 đi trên đường, trong túi áo khoác bên trái của bà T1 có để điện thoại di động hiệu OPPO A54 4GB/128GB, màu đen, số Imeil: 3862366055412672, số I: 3862366055412664 nên T liền đi theo, điều khiển xe áp sát và đưa tay phải giật chiếc điện thoại trong túi áo khoác của chị T1 rồi bỏ chạy về nhà. Bị giật tài sản bất ngờ, chị T1 bị té ngã xây sát chân tay và vùng đầu nên đã được người dân đưa vào Bệnh viện Bà Rịa sơ cứu, phương tiện di chuyển không bị hư hỏng gì. Sau đó T đã bán cho một người không rõ lai lịch ở thôn C, xã T, thị xã P được 1.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 287/KL - HĐĐGTS ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54 4GB/128GB, màu đen, số Imeil: 3862366055412672, số Imei2: 3862366055412664 có giá trị 2.000.000 đồng.
Vụ thứ 3:
Khoảng 10 giờ một ngày trong tháng 10/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1 - 705.21 đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đi ngang qua khu vực Trường THPT B thuộc đường N, khu phố D, phường P, thì T thấy bên kia đường có một em học sinh ngồi trên xe mô tô sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A21S. T điều khiển xe áp sát rồi sử dụng tay phải giật lấy điện thoại của em học sinh rồi bỏ chạy về nhà. Điện thoại Samsung Galaxy A21S không cài mật khẩu và T đã bán cho Hồ Văn P với giá 600.000 đồng. Sau khi mua điện thoại thì P đã giao lại cho anh Nguyễn Quốc K1, sinh năm: 1987, HKTT: tổ C, khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh BR - VT là chủ cửa hàng T2 tại khu vực ngã ba H, xã T, thị xã P, tỉnh BR - VT. Sau đó anh K1 đã bán cho một người khách không rõ nhân thân lai lịch. Hiện không thu hồi được tài sản.
Vụ thứ 4:
Khoảng 15 giờ ngày 06/10/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đến đường B, thành phố B thì thấy chị Lý Thị L, sinh năm 1992 đang đang điều khiển xe mô tô, trong túi quần bên trái có một điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax 64GB, màu xanh, số Imeil: 352843110346456 hở ra bên ngoài. T liền đi theo chị L, khi tới phía trước Ngân hàng TMCP S3 (S4) thuộc số C đường D, khu phố B, phường P thì T đưa tay phải giật lấy điện thoại trong túi quần của chị L rồi nhanh chóng bỏ chạy về nhà. Do chiếc điện thoại của chị L không cài mật khẩu nên T để lại sử dụng cho đến ngày bị Cơ quan điều tra phát hiện, xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 281/KL - HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax 64GB, màu xanh, số Imeil: 352843110346456 có giá trị 10.066.000 đồng.
Vụ thứ 5:
Khoảng 11giờ ngày 16/10/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đi đến đường H, ấp P, xã T thì thấy cháu Trần Kỳ Linh Đ, sinh ngày 14/3/2007, điều khiển xe máy điện hiệu ESPERO màu xanh chở bạn là cháu Nguyễn Thị Khánh L1, sinh ngày 12/9/2007, HKTT: ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh BR-VT. Cháu L1 ngồi sau sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus 64GB, màu gold, số Imei1: 356118093184067. T đi tới, áp sát từ phía bên trái sau đó sử dụng tay phải giật điện thoại từ tay của cháu L1. Tuy nhiên, cháu L1 đã giữ chặt điện thoại nên T giật không được tài sản rồi nhanh chóng bỏ chạy. Cháu L1 và cháu Đ bị ngã ra đường, chân tay xây sát, xe máy điện bị hư hỏng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 293/KL - HĐĐGTS ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus 64GB, màu gold, số Imeil: 356118093184067 có giá trị 3.500.000 đồng.
Tại Thông báo về việc từ chối định giá tài sản số 58/TB.HĐĐG ngày 04/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bà đối với 01 xe máy điện hiệu ESPERO màu xanh.
Vụ thứ 6:
Khoảng 19 giờ ngày 07/11/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đến đường Đ, phường P thì T thấy có chị Lê Thị Kim L2, sinh năm: 2003, đang ngồi trên xe ở sát vỉa hè đường để sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax 128GB, màu xanh, số I: 359237634423383. T liền quay xe lại để áp sát, sử dụng tay phải giật chiếc điện thoại của chị L2 rồi nhanh chóng bỏ chạy về nhà. Sau đó, T đã mang bán chiếc điện thoại trên cho Hồ Văn P được 4.000.000 đồng. Số tiền bán được tài sản, T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại từ Đỗ Đức T thì Hồ Văn P đã tháo rời các linh kiện để thay thế, sửa chữa cho nhiều người khác nhau.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 284/KL - HĐĐGTS ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax 128GB, màu xanh, số Imei: 359237634423383 có giá trị 12.500.000 đồng.
Vụ thứ 7:
Khoảng 10 giờ ngày 17/11/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 đi trên các tuyến đường ở thị xã P tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực Nhà máy S5 thuộc Quốc lộ E, xã T, thị xã P thì T phát hiện một người phụ nữ vừa điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh vừa sử dụng điện thoại di động. Lúc này, T điều khiển xe áp sát rồi đưa tay phải giật lấy chiếc điện thoại của người phụ nữ rồi nhanh chóng bỏ chạy. Tài sản cướp giật được là điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, có cài mật khẩu. T đã bán cho Hồ Văn P được 1.900.000 đồng. Sau khi mua điện thoại từ Đỗ Đức T thì Hồ Văn P đã tháo rời các linh kiện để thay thế, sửa chữa cho nhiều người khác nhau. Hiện không thu hồi được tài sản.
Vụ thứ 8:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/11/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 (Trọng tháo biển số) đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. Khi đến đường số A thuộc ấp B, xã H, thành phố B, T thấy chị Trần Thị Kim G, sinh năm: 1987, đang dừng xe ở bên đường và sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung SM A528B/DS, 128GB, màu xanh, số I: 350346451197811. T điều khiển xe đi tới, dùng tay phải giật lấy điện thoại của chị G rồi đưa điện thoại từ tay phải qua tay trái và nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về nhà. Sau đó, T đã mang bán chiếc điện thoại trên cho Hồ Văn P được 1.500.000 đồng. Số tiền bán được tài sản, T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại từ Đỗ Đức T thì Hồ Văn P đã bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch được 2.500.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 272/KL - HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung SM A528B/DS, 128GB, màu xanh, số Imei: 350346451197811 có giá trị 3.400.000 đồng.
Vụ thứ 9:
Khoảng 10 giờ ngày 04/12/2023, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 đi trên các tuyến đường ở thành phố B tìm người đi đường để cướp giật tài sản. T đi đến đường N, khu phố H, phường L thì T thấy chị Châu Thị M, sinh năm 1987, đang điều khiển xe mô tô, trong túi quần có để một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S, số IMEI1: 350753207070707, số IMEI 2: 352044987070705 hở ra bên ngoài, T điều khiển xe áp sát và sử dụng tay phải giật lấy điện thoại trong túi quần của chị M, rồi tẩu thoát về nhà. Chị M không bị thương tích, phương tiện di chuyển không bị hư hỏng. Chiếc điện thoại T cướp giật được thì T chưa mang đi tiêu thụ mà để cất giấu tại nhà cho đến ngày bị Cơ quan điều tra phát hiện, xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 275/KL - HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S, số IMEI1: 350753207070707, số IMEI 2: 352044987070705 có giá trị 1.830.000 đồng.
Ngày 04/12/2023, Đỗ Đức T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (Viết tắt là CSĐT) Công an thành phố B đầu thú thừa nhận hành vi phạm tội của mình (Bút lục số: 549-554; 573-577; 579-583).
* Đối với hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Hồ Văn P:
Sau khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản tại thành phố B và thị xã P, Đỗ Đức T đã mang bán tài sản cướp giật là điện thoại đi động cho Hồ Văn P.
Vào một ngày trong tháng 10/2023, T cướp giật được chiếc điện thoại S6 A21S không mật khẩu của một em học sinh gần trường THPT B và mang bán cho P với giá 600.000 đồng. Khi mua tài sản thì điện thoại không có mật khẩu nên P không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có.
Ngày 07/11/2023, T cướp giật được chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax 128GB, màu xanh của chị Lê Thị Kim L2 và mang bán cho P. Khi bán thì T nói là điện thoại của T bị quên mật khẩu và I nên đến cửa hàng để cài lại. P báo giá cài đặt lại mật khẩu là 5.000.000 đồng, nhưng T thấy giá cao quá, không có tiền để cài lại mật khẩu cho chiếc điện thoại này nên đã bán cho P với giá 4.000.000 đồng. Khi mua tài sản thì P không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có.
Ngày 17/11/2023, T cướp giật được chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax ở xã T, thị xã P và mang bán cho P. Khi bán thì T nói là điện thoại của người nhà bị quên mật khẩu, nên đã bán cho P với giá 1.900.000 đồng. Khi mua điện thoại thì P không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có. Sau đó, anh Nguyễn Quốc K1 nhắc nhở P không được mua điện thoại bị khoá mật khẩu vì tài sản đó có thể do phạm tội mà có, nên P đã nghi ngờ về tài sản T mang bán.
Ngày 30/11/2023, Trọng giật được chiếc điện thoại di động hiệu Samsung SM A528B/DS, 128GB, màu xanh của chị Trần Thị Kim G và mang bán cho P. Khi bán thì chiếc điện thoại di động có mật khẩu nhưng T không mở được. Lúc này, Hồ Văn P biết được đây là tài sản do Trọng phạm tội mà có. T năn nỉ nhiều lần để P mua giúp và vì ham lợi nhuận nên P đồng ý mua chiếc điện thoại với giá 1.500.000 đồng.
Ngày 12/6/2024, Hồ Văn P đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đầu thú thừa nhận hành vi phạm tội của mình (Bút lục số: 495; 516-520; 523-525; 529-531).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật (Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã xử lý vật chứng):
- 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future fi màu đen, biển số 72E1–705.21, số khung: RLHJC 7639KY051958, số máy: JC76E1074728, là tài sản của anh Đỗ Thành L3, sinh năm: 1990, HKTT: tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh BR – VT (anh trai của T), anh L3 cho Trọng mượn để sử dụng, anh L3 không biết T sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng số 91/QĐ-ĐCSHS, trả lại chiếc xe trên cho anh L3.
- 01 điện thoại di động hiệu loại Iphone 11 pro max, số IMEI: 352843110346456 (đã qua sử dụng) là điện thoại của chị Lý Thị L. Ngày 20/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lí vật chứng số 86/QĐ-ĐCSHS, trả lại chiếc điện thoại trên cho chị L.
- 01 điện thoại di động hiệu S6 A04S, số IMEI1: 350753207070707, số IMEI 2: 352044987070705 (đã qua sử dụng) là điện thoại của chị Châu Thị M. Ngày 20/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lí vật chứng số 87/QĐ-ĐCSHS, trả lại chiếc điện thoại trên cho chị M.
* Vật chứng hiện đang tạm giữ chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa:
- 01 áo khoác màu xám đen đã qua sử dụng, là áo khoác của T.
- 01 mũ bảo hiểm màu xám xanh có chữ VINAFONE, là mũ bảo hiểm của T.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.
* Phần dân sự:
- Chị Nguyễn Trần Ý N1 yêu cầu bồi thường số tiền 6.330.000 đồng.
- Chị Lê Thị Kim L2 yêu cầu bồi thường số tiền 12.500.000 đồng.
- Chị Châu Thị M, Chị Lý Thị L đã được nhận lại tài sản nên không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
- Cháu Trần Kỳ Linh Đ, cháu Nguyễn Thị Khánh L1, chị Trần Thị Kim G, chị Đỗ Tuyết T1 đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKSBR ngày 12-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố: Đỗ Đức T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; Hồ Văn P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát thành phố Bà Rịa giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Đức Trọng phạm t “Cướp giật tài sản”, Hồ Văn P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; đề nghị hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Đức T từ 05 năm đến 06 năm tù; đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Văn P từ 06 đến 09 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ để bị cáo có cơ hội sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đỗ Đức T, Hồ Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, trùng khớp, phù hợp kết quả định giá tài sản cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 9/2023 đến ngày 04/12/2023, tại thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đỗ Đức T đã có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm cướp giật tài sản của người khác 07 lần. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 20/9/2023, tại Quốc lộ E, xã H, thành phố B, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 (đã tháo biển số) áp sát xe mô tô của chị Nguyễn Trần Ý N1 và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX trị giá 6.330.000 đồng của chị N1.
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 27/9/2023, tại đường P phường P, TP Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 áp sát xe mô tô của chị Đỗ Tuyết T1 và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 trị giá 2.000.000 đồng của chị T1.
Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 06/10/2023, tại số C D, phường P, thành phố B, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 áp sát xe mô tô của chị Lý Thị L và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 trị giá 10.066.000 đồng của chị L.
Lần thứ tư: Khoảng 11 giờ ngày 16/10/2023, tại đường H thuộc xã T, thành phố B, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 áp sát xe máy điện của cháu Trần Kỳ Linh Đ đang chở bạn là cháu Nguyễn Thị Khánh L1 và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus trị giá 3.500.000 đồng của cháu L1, nhưng không cướp giật được tài sản.
Lần thứ năm: Khoảng 19 giờ ngày 07/11/2023, tại đường Đ, phường P, thành phố B, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 áp sát chị Lê Thị Kim L2 đang ngồi trên xe mô tô và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax trị giá 12.500.000 đồng của chị L2.
Lần thứ sáu: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/11/2023, tại đường số A, ấp B, xã H, thành phố B, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 (đã tháo biển số) áp sát xe mô tô của chị Trần Thị Kim G và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM trị giá 3.400.000 đồng của chị G.
Lần thứ bảy: Khoảng 10 giờ ngày 04/12/2023, tại đường N, phường L, thành phố B, Đỗ Đức T điều khiển xe mô tô biển số 72E1-705.21 áp sát xe mô tô của chị Châu Thị M và nhanh chóng giật lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S trị giá 1.830.000 đồng của chị M.
Ngày 30/11/2023, Hồ Văn P biết chiếc điện thoại di động hiệu Samsung SM A528B/DS là do Đỗ Đức Trọng phạm t mà có được nhưng vẫn mua lại của T với giá 1.500.000 đồng và đã bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch được 2.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Đỗ Đức T cướp giật là 39.626.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Đức T như nêu trên đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Văn P đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo chẳng những xâm hại tài sản của công dân, mà còn ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Đức T, Hồ Văn P đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Đỗ Đức T đã bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả. Vì vậy, áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo T khi lượng hình. Ngoài tình tiết giảm nhẹ trên, bị cáo Hồ Văn P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo bị mắc bệnh xương thủy tinh, khó khăn trong việc đi lại, sinh hoạt nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo P.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Đức Trọng phạm t 02 lần trở lên. Vì vậy, áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Vì những cơ sở trên, cần cách ly hai bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới có đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo Đỗ Đức T, Hồ Văn P tại phiên tòa cho thấy các bị cáo làm công việc lao động phổ thông, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn,. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T, P.
[5]. Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng của vụ án đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xử lý lại.
Cơ quan CSĐT sau khi thu giữ đã chuyển các tài sản, đồ vật sau đây đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa để Tòa án xử lý khi xét xử:
- 01 áo khoác màu xám đen đã qua sử dụng;
- 01 mũ bảo hiểm màu xám xanh có chữ VINAFONE;
Hội đồng xét xử xét thấy: Chiếc áo khoác và mũ bảo hiểm là của Đỗ Đức T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy các đồ vật trên không còn giá trị hoặc có giá trị sử dụng không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự:
- Chị Châu Thị M, chị Lý Thị L đã được nhận lại tài sản nên không có ý kiến, yêu cầu gì thêm; cháu Trần Kỳ Linh Đ, cháu Nguyễn Thị Khánh L1, chị Trần Thị Kim G, chị Đỗ Tuyết T1 đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử xem như trách nhiệm dân sự của những người này đã giải quyết xong.
- Chị Nguyễn Trần Ý N1 yêu cầu bồi thường số tiền 6.330.000 đồng.
- Chị Lê Thị Kim L2 yêu cầu bồi thường số tiền 12.500.000 đồng.
Xét thấy các yêu cầu của chị N1, chị L2 là có căn cứ nên chấp nhận.
[7]. Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức T, Hồ Văn P phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đỗ Đức T bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Trần Ý N1 số tiền 6.330.000, bồi thường cho chị Lê Thị Kim L2 số tiền 12.500.000 đồng, tổng cộng 18.830.000 đồng nên phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 941.500 đồng (18.830.000 đồng x 5%).
[8].Về vấn đề khác:
Đối với những người mua điện thoại từ Đ, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra đề nghị tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với hành vi cướp giật tài sản của Đỗ Đức T xảy ra vào tháng 10/2023 tại đường N, khu phố D, phường P, TP . và lúc 10 giờ ngày 17/11/2023 tại Quốc lộ E, xã T, thị xã P; và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Hồ Văn P chưa xác định được người bị hại. Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi và tiếp tục xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là đúng pháp luật.
Đối với thương tích của các bị hại Trần Kỳ Linh Đ, Nguyễn Thị Khánh L1, Đỗ Tuyết T1, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích, tuy nhiên các bị hại đã tự nguyện từ chối giám định, do đó chưa đủ căn cứ để xử lý Đỗ Đức T về hành vị gây thương tích.
Đối với người mua điện thoại từ Hồ Văn P, chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, đề xuất xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Đỗ Đức T 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (04/12/2023).
2. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 323, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự;
Xử phạt Hồ Văn P 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy:
- 01 áo khoác màu xám đen đã qua sử dụng;
- 01 mũ bảo hiểm màu xám xanh có chữ VINAFONE;
(Các tài sản, đồ vật trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 122 ngày 13/8/2024 giữa bên giao Công an thành phố B và bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa)
4. Về vấn đề bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các điều 170, 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc Đỗ Đức T bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Trần Ý N1 số tiền 6.330.000 đồng (Sáu triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
Buộc Đỗ Đức T bồi thường cho bị hại chị Lê Thị Kim L2 số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Đỗ Đức T, Hồ Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Đức T phải nộp 941.500 đồng (Chín trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Minh Sơn |
Bản án số 114/2024/HSST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 114/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội Cướp giật tài sản, bị cáo Hồ Văn P phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
