|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 04-6-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt và ông Đoàn Đình H - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Vũ Ngọc D, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1963 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số A, tổ H, cụm B, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Căn hộ S Tòa nhà S, số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Y (đã chết) và con bà Trần Thị H1 (đã chết); không có vợ; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 241/HS-ST ngày 21/12/1979 của Tòa án nhân dân khu phố Hồng Bàng xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (tài sản chiếm đoạt là 01 xe đạp, không có định giá; thực hiện hành vi phạm tội khi 16 tuổi 6 tháng 12 ngày), được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự; Bản án số 26/HS-ST ngày 26/01/1981 của Tòa án nhân dân khu phố Hồng Bàng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (tài sản chiếm đoạt là một số thuốc viên, thuốc nước, bông băng... tổng trị giá 117 đồng (đều đã được
xóa án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2023, đến ngày 01/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Nguyễn Văn H2, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1960 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A V, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Lê Thị T; có vợ Chu Thị H3 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2023, đến ngày 01/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
3. Bùi Quang T1, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1968 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A G T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phước L (đã chết) và bà Vũ Thị A (đã chết); chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 181/HSST ngày 10/6/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 5 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2000, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng được miễn theo Quyết định miễn thi hành án số 03/QĐST-MTHADS ngày 10/12/2010 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2023, đến ngày 01/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phạm Quân N, sinh năm 1968; trú tại: Tổ F, khu H phường C, thành phố H, tỉnh Quang Ninh; vắng mặt.
- - Anh Phạm Đức N1, sinh năm 1991; trú tại: Tổ F, khu H phường C, thành phố H, tỉnh Quang Ninh, vắng mặt;
- - Anh Cù Mạnh D1, sinh năm 1963; trú tại: Số B đường L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- - Anh Vũ T2, sinh năm 1975; Trú tại: Số C đường Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 23/11/2023, Phạm Quân N sinh năm 1968 và Phạm Đức N1 sinh năm 1991 (đều trú tại tổ F, khu H phường C, thành phố H, tỉnh Quang Ninh), Cù Mạnh D1 (sinh năm 1963, trú tại số B L, phường H, quận L), Vũ T2 (sinh năm 1975, trú tại số C Đ, phường Đ, quận L), Bùi Quang T1 và Nguyễn Văn H2 đến nhà Vũ Ngọc D ở căn hộ S Tòa nhà S, số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng chơi. Trong lúc ngồi nói chuyện với nhau thì H2 nảy sinh ý định muốn sử dụng ma túy cần sa nên gọi điện cho đối tượng Trần Anh C (sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú: Số T, phường N, quận L; Chỗ ở: Số A L, phường L, quận L) hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy cần sa và bảo C mang Cần sa đến nhà D cho H2. Sau đó, H2 đi ra đường T mua 02 hộp giấy và 01 gói đầu lọc màu trắng để cuộn ma túy Cần sa, khi H2 quay lại khu vực sảnh của tòa nhà SHP thì gặp C mang 02 gói nilon (mỗi gói kích thước 8x10cm) chứa ma túy cần sa đến bán cho H2. H2 cất giấu 02 gói cần sa vào túi quần rồi chuyển khoản trả cho C 3.100.000 đồng (gồm 1.500.000 đồng tiền mua cần sa và 1.600.000 đồng tiền nợ trước đó). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn tối tại nhà D xong thì D, H2, T1, N, D1, T2 và N1 ngồi tại bàn uống nước ở phòng khách nhà D thì H2 bỏ ra 01 gói ma túy cần sa, 02 hộp giấy cuộn, 01 túi đầu lọc để trên mặt bàn nước, H2 nói “đây là ma túy Cần sa” và mời mọi người sử dụng. Thấy H2 nói vậy, thì T1 lấy một ít Cần sa trong túi nilon ra dùng kéo cắt vụn, dùng giấy và đầu lọc cuộn 04 điếu (mỗi điếu dài khoảng 7cm) để trên mặt bàn, T1 lấy 01 điếu dùng bật lửa gas châm hút cho điếu Cần sa cháy rồi hút khói Cần sa vào cơ thể. T1 hút mấy hơi rồi để điếu Cần sa đang cháy dở trên bàn, tiếp theo lần lượt H2, N, T2 cầm điếu Cần sa sử dụng hút khói vào cơ thể. Sau đó, D bỏ ra 01 gói nilon kích thước 2x2cm chứa chất bột màu trắng và nói “có ma túy Ketamine đây, ai thích thì sử dụng”, D bóc gói Ketamine ra rồi dùng mũi kéo xúc một ít đổ lên mu bàn tay rồi đưa lên mũi hít Ketamine vào cơ thể. D tiếp tục dùng mũi kéo xúc Ketamine chia lần lượt cho H2, D1, N1 sử dụng như cách D vừa sử dụng, số Ketamine trong túi nilon còn lại D để trên bàn để mọi người tiếp tục sử dụng. Sau đó, D bật nhạc cho mọi người nghe và sử dụng ma túy. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an quận N vào bắt quả tang, thu giữ: 02 gói nilon kích thước mỗi gói 8x10cm bên trong đều chứa thảo mộc khô (mẫu QT1); 02 điếu giấy cuộn (mỗi điếu dài 7cm) bên trong chứa thảo mộc khô vụn (mẫu QT2); 01 điếu giấy cuộn dài 2cm đang cháy dở (mẫu QT3); 01 gói nilon kích thước 2x2cm bên trong chứa chất bột màu trắng (QT4); 01 gói nilon kích thước 12x20cm bên trong có nhiều đầu lọc màu trắng, 02 hộp giấy cuộn, 01 bật lửa gas.
Vật chứng:
- - 01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT/PC09 có chữ ký của những người có liên quan, chứa 3,32 gam Cần sa của mẫu QT1; 0,66 gam Cần sa của mẫu QT2; 0,29 gam Ketamine của mẫu QT4, cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu (từ mẫu số QT1 đến mẫu QT4).
- - 01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT-A/PC09 có chữ ký của giám định viên, chứa 01 kéo kim loại của mẫu KX1 sau khi xử lý mẫu giám định.
- - 01 điện thoại Xiaomi Redmi 9C của T1, 01 điện thoại Iphone 8 Plus của D, 01 điện thoại Iphone 6S Plus của D1, 01 điện thoại Iphone XS max của N1, 01 điện thoại Samsung Galaxy của H2, 01 điện thoại Iphone 11 của N. Chuyển toàn bộ đồ vật, vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền bảo quản chờ xử lý.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu:
Vũ Ngọc D dương tính với ma túy Ketamine, Nguyễn Văn H2 dương tính ma túy Ketamine và C, Bùi Quang T1 dương tính với ma túy Cần sa, Vũ T2 dương tính ma túy Cần sa, Phạm Quân N dương tính với ma túy C, Phạm Đức N1 dương tính với ma túy Ketamine, Cù Mạnh D1 dương tính với ma túy Ketamine.
Tại Bản kết luận giám định số 968/KL-KLHS(MT) ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Phòng K2, Công an thành phố H, kết luận:
- - Thực vật khô của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,85 gam, loại Cần sa (hoa, lá cây Cần sa). Cơ quan giám định lấy ra 0,53 gam để giám định, còn lại 3,32 gam;
- - Thực vật khô, vụn của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,91 gam, loại Cần sa (hoa, lá cây Cần sa). Cơ quan giám định lấy ra 0,25 gam để giám định, còn lại 0,66 gam;
- - Thực vật khô, vụn của mẫu QT3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,02 gam, loại Cần sa (hoa, lá cây Cần sa). Cơ quan giám định đã giám định hết.
- - Chất bột màu trắng của mẫu QT4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,41 gam, loại Ketamine. Cơ quan giám định lấy ra 0,12 gam để giám định, còn lại 0,29 gam;
- - Tìm thấy chất ma túy, loại: Delta-9-Tetrahydrocannabinol và Ketamine bám dính trên kéo kim loại của mẫu KX1 gửi giám định. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên (D-9-Tetrahydrocannabinol là hoạt chất có trong cây Cần sa và các sản phẩm từ C).
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Ngọc D mức án từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm 09 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang T1 mức án từ 07 năm 03 tháng đến 08 năm 03 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Về hình phạt bổ sung:
Do các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT/PC09 có chữ ký của những người có liên quan, chứa 3,32 gam Cần sa của mẫu QT1; 0,66 gam Cần sa của mẫu QT2; 0,29 gam Ketamine của mẫu QT4, cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu (từ mẫu số QT1 đến mẫu QT4).
- + 01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT-A/PC09 có chữ ký của giám định viên, chứa 01 kéo kim loại của mẫu KX1 sau khi xử lý mẫu giám định.
- Trả lại:
01 điện thoại Xiaomi Redmi 9C cho bị cáo Bùi Quang T1; 01 điện thoại Iphone 8 Plus cho bị cáo Vũ Ngọc D; 01 điện thoại Iphone 6S Plus cho anh Cù Mạnh D1; 01 điện thoại Iphone XS max cho anh Phạm Đức N1; 01 điện thoại Iphone 11 cho anh Phạm Quân N.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
01 điện thoại Samsung Galaxy bị cáo Nguyễn Văn H2.
- Về án phí:
Các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 là người cao tuổi nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo Bùi Quang T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/11/2023, tại nhà của Vũ Ngọc D ở căn hộ S Tòa nhà S, số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, Vũ Ngọc D có hành vi cung cấp ma túy Ketamine và dụng cụ gồm: 01 kéo kim loại, 01 bật lửa gas tổ chức cho Nguyễn Văn H2, Cù Mạnh D1 và Phạm Đức N1 sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine cùng D, khối lượng ma túy Ketamine còn lại bị thu giữ là 0,41gam; Nguyễn Văn H2 cung cấp ma túy Cần sa cho Bùi Quang T1, Phạm Quân N và Vũ T2 cùng H2 sử dụng trái phép chất ma túy Cần sa, Bùi Quang T1 giúp sức dùng kéo cắt vụn Cần sa cuộn 04 điếu và châm lửa điếu Cần sa cho T1, H2, T2, N sử dụng, khối lượng ma túy Cần sa còn lại bị thu giữ là 4,78 gam. Hành vi của các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 đủ yếu tố cầu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 về tội danh và điều luật áp dụng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về sử dụng chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe của bản thân và của người khác, gây hoang mang cho nhiều gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy thấy cần thiết phải xử nghiêm, buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục.
- Xét vai trò của các bị cáo:
[5] Trong vụ án này Nguyễn Văn H2 là người khởi xướng mua ma tuý và là người trực tiếp bỏ tiền mua ma tuý, nhận ma tuý, trực tiếp đi mua 02 hộp giấy và 01 gói đầu lọc màu trắng cuộn ma túy Cần sa để tổ chức sử dụng ma túy; bị cáo Vũ Ngọc D cung cấp địa điểm, sau khi sử dụng ma tuý do H2 bỏ ra, D tiếp tục bỏ ma túy K1 và lần lượt cho H2, D1, N1, T1 sử dụng. Như vậy, đánh giá vai trò H2 và D là ngang nhau. Nhưng bị cáo D nhân thân xấu, có 02 tiền án đã được xoá nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H2. Bị cáo Bùi Quang T1 tham gia với vai trò thứ yếu nên chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo D, bị cáo H2.
- Về tình tiết giảm nhẹ.
[6] Nhân thân bị cáo Vũ Ngọc D có 02 tiền án đã được xoá; bị cáo Bùi Quang T1 có 01 tiền án đã được xoá. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo H2 chưa có tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có thời gian tham gia quân ngũ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[7] Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án:
[8] Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT/PC09 có chữ ký của những người có liên quan, chứa 3,32 gam Cần sa của mẫu QT1; 0,66 gam Cần sa của mẫu QT2; 0,29 gam Ketamine của mẫu QT4, cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu (từ mẫu số QT1 đến mẫu QT4); 01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT-A/PC09 có chữ ký của giám định viên, chứa 01 kéo kim loại của mẫu KX1 sau khi xử lý mẫu giám định.
Vật chứng không liên quan đến vụ án nên trả lại:
01 điện thoại Xiaomi Redmi 9C cho bị cáo Bùi Quang T1; 01 điện thoại Iphone 8 Plus cho bị cáo Vũ Ngọc D; 01 điện thoại Iphone 6S Plus cho anh Cù Mạnh D1, sinh năm 1963; địa chỉ: Số B đường L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; 01 điện thoại Iphone XS max cho anh Phạm Đức N1, sinh năm 1991, trú tại: Tổ F khu H, C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; 01 điện thoại Iphone 11 cho anh Phạm Quân N, sinh năm 1968; trú tại: Tổ F khu H, C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Vật chứng là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy bị cáo Nguyễn Văn H2.
- Về án phí:
[9] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14: Các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 là người cao tuổi nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo Bùi Quang T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo:
[10] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Trong vụ án này, Cù Mạnh D1, Vũ T2, Phạm Quân N và Phạm Đức N1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Vũ Ngọc D, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 241, 242, 243, 244 ngày 24/12/2023 đối với D1, T2, N và N1 theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với Trần Anh C có hành vi bán trái phép ma túy Cần sa cho Nguyễn Văn H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã tách hành vi này của C ra đưa vào xử lý trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 266 ngày 02/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N.
[13] Đối với người đàn ông tên H4 đã cho Vũ Ngọc D gói ma túy Ketamine trước đó, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Bùi Quang T1.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Xử phạt :
- - Bị cáo Vũ Ngọc D 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2023.
- - Bị cáo Nguyễn Văn H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2023.
- - Bị cáo Bùi Quang T1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2023.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT/PC09 có chữ ký của những người có liên quan, chứa 3,32 gam Cần sa của mẫu QT1; 0,66 gam Cần sa của mẫu QT2; 0,29 gam Ketamine của mẫu QT4, cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu (từ mẫu số QT1 đến mẫu QT4); 01 bì giấy dấu niêm phong số 968MT-A/PC09 có chữ ký của giám định viên, chứa 01 kéo kim loại của mẫu KX1 sau khi xử lý mẫu giám định.
Trả lại 05 điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng:
01 điện thoại Xiaomi Redmi 9C cho bị cáo Bùi Quang T1; 01 điện thoại Iphone 8 Plus cho bị cáo Vũ Ngọc D; 01 điện thoại Iphone 6S Plus cho anh Cù Mạnh D1, sinh năm 1963; địa chỉ: Số B đường L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; 01 điện thoại Iphone XS max cho anh Phạm Đức N1, sinh năm 1991, trú tại: Tổ F khu H, C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; 01 điện thoại Iphone 11 cho anh Phạm Quân N, sinh năm 1968; trú tại: Tổ F khu H, C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
01 điện thoại Samsung Galaxy của bị cáo Nguyễn Văn H2 (Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Vũ Ngọc D và bị cáo Nguyễn Văn H2 là người cao tuổi nên được miễn án phí; bị cáo Bùi Quang T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Vũ Ngọc D, Nguyễn Văn H2 và Bùi Quang T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiên Dương Tuân
