|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2025/HS-ST
Ngày 11 - 11 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Hồng Phước. |
| Thẩm phán: | Bà Từ Thị Hải Dương. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trương Xuân Mâu; |
| Ông Mai Văn Ngọc; | |
| Ông Nguyễn Xuân Thí. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xét xử Hình sự - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/HS-ST ngày 02/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Quốc V; sinh ngày 28/01/1990, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố H, phường N, tỉnh Quảng Trị (trước đây là Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Văn L (đã chết); con bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; trú tại: Khu phố H, phường N, tỉnh Quảng Trị. Vợ Nguyễn Thị Trà G, sinh năm 1989; trú tại: Khu phố H, phường N, tỉnh Quảng Trị; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/02/2019, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (cũ) xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPVPHC.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11/01/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Q - Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Trọng Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ1); sinh ngày 29/10/1984, tại tỉnh Hưng Yên (trước đây là tỉnh Thái Bình); nơi cư trú: Khu phố C, phường N, tỉnh Quảng Trị (trước đây là Khu phố C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Trọng Đ2, sinh năm 1953, con bà Mai Thị X, sinh năm 1952; cùng có nơi cu trú: Thôn V, xã P, tỉnh Hưng Yên. Vợ Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1985, trú tại: Khu phố C, phường N, tỉnh Quảng Trị; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 10/12/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 63/2008/HSST.
- Ngày 05/02/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tồng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 63/2008/HSST ngày 10/12/2008, buộc thi hành chung của 02 Bản án là 18 tháng tù theo Bản án số 05/2009/HSST.
- Ngày 17/01/2011, bị Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (cũ) xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐ-XPVPHC.
- Ngày 27/8/2012, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T (cũ) ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng vì đã có hành vi “Nhiều lần trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 2037/QĐ-UB.
- Ngày 31/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (cũ) xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 49/2018/HSST.
- Ngày 17/4/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (cũ) xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 18/2020/HSST.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11/01/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Q - Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Quốc V: Ông Trần Đình D - Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh Q - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng Đ: Ông Nguyễn Đức T - Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh Q - Có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo Đ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Trà G, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố H, phường N, tỉnh Quảng Trị (vợ của bị cáo V) - Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố C, phường N, tỉnh Quảng Trị (vợ của bị cáo Đ) - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/01/2025, Lê Quốc V đến một ngã ba đường N tại Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường N, tỉnh Quảng Trị), mua 08 gói (khoảng 1.600 viên) ma túy loại Methamphetamine, thường gọi là hồng phiến của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 16.000.000 đồng, rồi đưa ma túy về nhà ở Kiệt D đường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (củ) cất giấu, nhằm mục đích bán kiếm lời và sử dụng.
Khoảng 13 giờ ngày 11/01/2025, một người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0396.309.xxx gọi đến số 0912.943.335 của Nguyễn Trọng Đ rủ đến quán ở khu vực gần khách sạn M, thuộc Khu phố I, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị) để ăn trưa thì Đ đồng ý và điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 54P8-1692 đi đến gặp H1. Trong lúc ăn cơm, H1 hỏi Đ có ma túy hồng phiến không lấy cho H1 mấy gói. Vì biết Lê Quốc V có bán ma túy loại này, nên Đ gọi đến số 0842.777.156 của V hỏi mua 06 gói (khoảng 1.200 viên) ma túy tổng hợp, V đồng ý bán và báo giá 2.400.000đồng/gói, hẹn đến nhà V giao dịch nên Đ điều khiển xe mô tô chở H1 đến nhà V. Tại đây, H1 đề nghị V bán thêm 01 gói ma túy, tổng cộng H1 hỏi mua 07 gói ma túy, V đồng ý. Sau đó, V lấy 07 gói ma túy trong số 08 gói ma túy Việt mua trước đó giao cho Đ; 01 gói ma túy còn lại V tiếp tục cất giữ tại nhà để bán kiếm lời và sử dụng. Nhận ma túy, Đ lấy 02 chiếc khẩu trang màu trắng, bọc cố định lại. Lúc này, H1 nói với Đ và V đi ra ngoài để gửi tiền, nên Đ cầm ma tuý ở tay trái, điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 54P8-1692, chở H1; còn V điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 74D1-303.19 chạy theo. Khi cả ba đi đến phía trước nhà số E L, thuộc Khu phố I, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị), Đ và V dừng xe chuẩn bị giao dịch mua, bán ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 Cảnh sát biển Việt Nam phát hiện, bắt giữ Đ và V, tạm giữ 07 gói ma túy; còn người đàn ông tên H1 bỏ trốn khỏi hiện trường. Sau đó, lực lượng chức năng tiếp tục khám xét chỗ ở của V, phát hiện, tạm giữ 01 gói ma túy mà V cất giữ nhằm mục đích bán kiếm lời và sử dụng.
Tại Bản Kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:
- Mẫu các viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng ký hiệu MTQT gửi đến giám định là ma túy; loại Methaphetamine, khối lượng mẫu là 132,34 gam.
- Mẫu các viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng ký hiệu MTKX gửi đến giám định là ma túy; loại Methaphetamine, khối lượng mẫu là 13,26 gam.
- Các mẫu viên nén màu xanh không tìm thấy chất ma túy.
Cáo trạng số 1109/CT-VKS-P1 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Lê Quốc V và Nguyễn Trọng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V và Nguyễn Trọng Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; xử phạt:
- Bị cáo Lê Quốc V: 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 11 tháng 01 năm 2025.
- Bị cáo Nguyễn Trọng Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ1): 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11 tháng 01 năm 2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy:
- Toàn bộ ma túy và viên nén màu xanh được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong, mã số 191/2025/PC09, miệng túi được dán kín bằng băng dán niêm phong, trên túi có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 16/01/2025 kèm theo).
- Toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong, ký hiệu BG-SGĐ, bên ngoài có chữ ký, ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tình Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 11/02/2025 kèm theo).
- 01 (một) thẻ nhớ màu đen, có in chữ MIXIE 32GB.
- 01 (một) áo khoác tay dài màu nâu trắng tren áo có dãy chữ DOLCE hiệu "GABBANAMILANO ITALIA".
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- Trị giá ½ xe mô tô loại hai bánh từ 150-175cm³, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát 74D1-303.19, số khung: RLCUG1010KY229019; số máy: G3D4E1000054, sản xuất năm 2018; xe đã qua sử dụng.
- Trị giá ½ xe mô tô loại hai bánh từ 150-175cm³, nhãn hiệu SYM, số loại Elizabeth, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 54P8-1692, số khung RLGKA12FD8D013372, số máy VMVT5BD013572, sản xuất năm 2008; xe đã qua sử dụng.
- 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011255053280 của Nguyễn Trọng Đ.
- 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011696055068 của Lê Quốc V.
- Trả lại cho bị cáo Lê Quốc V: 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Samsung, màu bạc, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011696407459 của Lê Quốc V.
Về án phí: Các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Trọng Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Trọng Đ trình bày lời bào chữa: Đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Lê Quốc V trình bày lời bào chữa: Đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Quốc V: Đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Quốc V về tội “Mua bán trái phép chất ma túý“. Tuy nhiên, đề nghị xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; con còn nhỏ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án 18 năm tù.
Luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng Đ: Đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 18 năm tù.
Bị cáo Nguyễn Trọng Đ nói lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
Bị cáo Lê Quốc V nói lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 11/01/2025, Lê Quốc V đã có hành vi mua 145,6 gam ma túy loại Methamphetamine, rồi cùng với Nguyễn Trọng Đ bán 132,34 gam ma túy loại Methamphetamine cho người khác nhằm thu lợi bất chính thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ nên các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
[3]. Xét tính chất, mức độ, vai trò của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước; hậu quả của ma túy không chỉ làm huỷ hoại sức khoẻ giống nòi mà còn là nguyên nhân phát sinh cho các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Trong vụ án này, Lê Quốc V là người trực tiếp mua 145,6 gam ma túy loại Methamphetamine rồi cùng với Nguyễn Trọng Đ bán cho một người đàn ông tên H1 khối lượng 132,34 gam, V là người có hành vi mua ma tuý và cùng Đ đưa 132,34 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán cho người khác và bị bắt quả tang; ngoài ra khám xét tại nhà V thu giữ 13,26g Methamphetamine mà V cất giữ nhằm mục đích bán kiếm lời nên V chịu chung tang số mua bán 145,6 gam ma túy loại Methamphetamine; Đông chịu tang số mua bán 132,34 gam ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra, bị cáo Đ có nhân thân xấu, nhiều lần bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và Toà án đưa vụ án ra xét xử nhiều lần với nhiều tội danh trong đó có tội liên quan đến ma tuý nên cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Quốc V và Nguyễn Trọng Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Xét thấy, các bị cáo có hành vi mua bán ma túy với khối lượng không lớn, tang số trên mức khởi điểm trong khung hình phạt không nhiều; đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử thấy không chấp nhận ý kiến bào chữa cho các bị cáo mà cần chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xử phạt các bị cáo mức khởi điểm khung hình phạt của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ ma tuý, bao gói sau giám định, áo khoác, thẻ nhớ là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành; không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ; gồm:
Toàn bộ ma túy và viên nén màu xanh được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong, mã số 191/2025/PC09, miệng túi được dán kín bằng băng dán niêm phong, trên túi có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 16/01/2025 kèm theo); Toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong, ký hiệu BG-SGĐ, bên ngoài có chữ ký, ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tình Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 11/02/2025 kèm theo); 01 (một) thẻ nhớ màu đen, có in chữ MIXIE 32GB; 01 (một) áo khoác tay dài màu nâu trắng tren áo có dãy chữ DOLCE hiệu “GABBANAMILANO ITALIA”.
- Đối với xe mô tô gắn biển kiểm soát 74D1-303.19, người đứng tên đăng ký là Trương Quốc B, sinh năm 1995, trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã N, tỉnh Quảng Trị). Xe này do chị Nguyễn Thị Trà G là vợ của Lê Quốc V mua lại của ông B trong thời kỳ hôn nhân để vợ chồng bị cáo và bà G cùng sử dụng, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Xét thấy, đây là tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân, bị cáo V sử dụng xe mô tô làm phương tiện để mua bán trái phép chất ma túy nên xác định là phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Trong trường hợp chị G đồng sở hữu tài sản có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường một phần giá trị của tài sản chung mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Đối với xe mô tô gắn biển kiểm soát 54P8-1692, người đứng tên đăng ký là Nguyễn Long G1 - Sinh năm 1984, trú tại: 1 Hồ N, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh). Xe này do chị Nguyễn Thị Thu H là vợ của Nguyễn Trọng Đ mua lại trong thời kỳ hôn nhân để vợ chồng bị cáo và chị H cùng sử dụng, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Xét thấy, đây là tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân, Đ sử dụng xe mô tô làm phương tiện để mua bán trái phép chất ma túy nên xác định là phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Trong trường hợp bà H đồng sở hữu tài sản có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường một phần giá trị của tài sản chung mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động in nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011255053280 của Nguyễn Trọng Đ và 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011696055068 của Lê Quốc V mà các bị cáo dùng vào việc liên lạc để mua bán ma tuý nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động in nhãn hiệu Samsung, màu bạc, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011696407459 của Lê Quốc V không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Lê Quốc V.
[6]. Về xử lý các đối tượng có liên quan:
- Đối với người đàn ông tên H1, có hành vi mua 07 gói ma túy tổng hợp có tổng khối lượng 132,34 gam loại Methamphetamine. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, kết quả không xác định được con người cụ thể, nên không có đủ căn cứ kết luận để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với lời khai của Lê Quốc V, về việc đến một ngã ba đường N, khu vực gần nhà V, tại Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường N, tỉnh Quảng Trị), liên hệ mua ma túy của một người đàn ông không quen biết và không rõ đặc điểm nhận dạng. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng không có đủ căn cứ kết luận để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về biện pháp ngăn chặn: Quyết định tạm giam số 145/2025/HSST-QĐTG ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Lê Quốc V và Quyết định tạm giam số 146/2025/HSST-QĐTG ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với Nguyễn Trọng Đ còn lại trên 45 ngày nên cần tiếp tục áp dụng các quyết định tạm giam trên đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[8]. Về án phí: Bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Trọng Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V và Nguyễn Trọng Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ1) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; xử phạt:
- Bị cáo Lê Quốc V: 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11 tháng 01 năm 2025.
- Bị cáo Nguyễn Trọng Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ1): 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11 tháng 01 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025:
- Tịch thu tiêu hủy:
- Toàn bộ ma túy và viên nén màu xanh được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong, mã số 191/2025/PC09, miệng túi được dán kín bằng băng dán niêm phong, trên túi có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 16/01/2025 kèm theo).
- Toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong, ký hiệu BG-SGĐ, bên ngoài có chữ ký, ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tình Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 11/02/2025 kèm theo).
- 01 (một) thẻ nhớ màu đen, có in chữ MIXIE 32GB.
- 01 (một) áo khoác tay dài màu nâu trắng trên áo có dãy chữ DOLCE hiệu "GABBANAMILANO ITALIA".
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát 74D1-303.19, số khung: RLCUG1010KY229019; số máy: G3D4E1000054, xe đã qua sử dụng, không kiển tra chi tiết bên trong (theo biên bản giao nhận vật chứng) - (theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 11/2/2025 của Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (củ) thì 01 (một) xe mô tô loại hai bánh từ 150-175cm³, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát 74D1-303.19, số khung: RLCUG1010KY229019; số máy: G3D4E1000054, sản xuất năm 2018).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM, Elizabeth, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 54P8-1692, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong; tại thời điểm nhận không tìm thấy số khung, số máy (theo biên bản giao nhận vật chứng) - (Theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 11/2/2025 của Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (củ) thì 01 (một) xe mô tô loại hai bánh từ 150-175cm³, nhãn hiệu SYM, số loại Elizabeth, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 54P8-1692, số khung RLGKA12FD8D013372, số máy VMVT5BD013572, sản xuất năm 2008).
- 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011255053280 của Nguyễn Trọng Đ.
- 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011696055068 của Lê Quốc V.
- Trả lại cho bị cáo Lê Quốc V: 01 (một) Điện thoại di động in nhãn hiệu Samsung, màu bạc, gắn kèm SIM Vinaphone in số 89840200011696407459 của Lê Quốc V.
Các điện thoại được miên phong trong 01 (một) phong bì niêm phong, ký hiệu KL543, bên ngoài túi niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K, công an tỉnh Q (Có biên bản niêm phong và kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 09/05/2025 kèm theo).
(Tất cả các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026 của Uỷ ban thường vụ quốc hội:
Bị cáo Lê Quốc V và Nguyễn Trọng Đ (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ1), mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Thẩm phán | Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa |
|
| Từ Thị Hải Dương | Phan Hồng P |
Các Hội thẩm nhân dân
| Mai Văn Ngọc | Trương Xuân Mâu | Nguyễn Xuân Thí |
Bản án số 114/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc V cùng đồng phạm phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
