|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 114/2025/HS-ST Ngày: 05-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
- 2/ Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đăng H, sinh năm 1990; tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: 8, đường số H, khu phố G, phường H, thành phố T, thành phố H; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 29/9/2011, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 16/4/2011 theo Bản án số 48/2011/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 20/4/2013, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 21/11/2021.
- Ngày 05/01/2019, bị cáo bị Uỷ ban xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở xã hội Thanh thiếu niên B để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 10/QĐ-UBND. Ngày 21/02/2019 Ủy ban xã T ban hành Quyết định huỷ Quyết định đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở xã hội Thanh thiếu niên B để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 107/QĐ-UBND.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Tổng công ty Đ (B1); địa chỉ trụ sở: Tầng 1, Tòa nhà W, số A đường H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1980; địa chỉ: Xí nghiệp P - Đường X, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền (theo giấy ủy quyền ngày 08/10/2024). Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Trần Thị Thùy D, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Số A khu V, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- + Ông Đồng Văn Hùng C, sinh năm 1973; địa chỉ thường trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Đăng H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, sống lang thang ở khu vực xung quanh thành phố Hồ Chí Minh. Trước đây, bị cáo làm công nhân xây, lắp các hệ thống đường điện. Ngày 30/12/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, biển số 65V1-0528 đi qua đoạn đường NA4 thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì thấy trên trụ điện số 2-8 và trụ điện số 2-9 của Tổng công ty Đ có 04 dây cáp điện đấu nối từ ngọn xuống hộp đồng hồ gắn ở phần thân của trụ điện, khu vực xung quanh nhà dân thưa thớt, ít người qua lại nên bị cáo nảy sinh ý định cắt trộm dây cáp điện để bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 03/01/2025 và ngày 05/01/2025, bị cáo đi đến đoạn đường NA4 và thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 02/01/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65V1-0528 và bị cáo mang theo 01 túi vải bên trong chứa 03 cây bu lông kim loại, mỗi cây có chiều dài 30cm, 01 kìm kim loại cán nhựa (kìm chuyên dụng cắt dây cáp điện) có chiều dài 46cm đi đến vị trí trụ điện số 2-8 và trụ điện số B, cạnh đường N thuộc khu phố E, phường T, thành phố B ngồi đợi. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 03/01/2025, bị cáo quan sát thấy không có người qua lại nên bị cáo đi bộ đến vị trí trụ điện 2-8. Bị cáo lấy kìm vắt vào sợi dây nịt rồi dùng 03 cây bu lông xỏ vào các lỗ có sẵn trên thân trụ điện để leo lên trụ điện và dùng kìm cắt đứt đoạn đầu của 02 sợi dây cáp điện. Sau đó, bị cáo leo xuống đất tiếp tục cắt đứt đoạn cuối của 02 sợi dây cáp điện tiếp giáp với hộp đồng hồ (hai sợi dây cáp điện có tổng chiều dài 13,1m, nặng 9,7kg). Sau khi cắt dây cáp điện xong, bị cáo mang 02 sợi dây cáp điện qua vườn tràm và dùng kìm cắt dây cáp điện ra thành nhiều đoạn nhỏ rồi cất vào bên trong túi vải. Bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65V1-0528 đi đến địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương bán dây cáp điện cho 01 người phụ nữ thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) với giá 100.000đ/kg được số tiền 970.000 đồng và bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ 04/01/2025, bị cáo điều khiển xe môtô biển số 65V1-0528 và bị cáo mang theo túi vải bên trong chứa 03 (ba) cây bu lông, 01 (một) kìm kim loại đến khu vực vườn tràm trên đường N thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương ngồi chờ để cắt trộm dây cáp điện trên trụ điện số 2-9. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 05/01/2025, bị cáo thấy không có người qua lại nên bị cáo đi bộ đến vị trí trụ điện số 2-9 cắt trộm được 02 sợi dây cáp điện có tổng chiều dài 11,7m, nặng 8,7kg. Sau khi cắt trộm dây cáp điện xong, bị cáo mang 02 sợi dây cáp điện qua vườn tràm dùng kìm cắt dây cáp điện ra thành 26 đoạn nhỏ có kích thước khác nhau đặt vào bên trong chiếc túi vải rồi ngồi đợi. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe môtô biển số 65V1-0528 chở theo 01 chiếc túi vải bên trong có chứa 26 đoạn dây cáp điện đi về thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán. Khi bị cáo H đi được khoảng 100 mét thì gặp ông Nguyễn Tiến H2 (sinh năm 1980, nơi thường trú: khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) là bảo vệ của Xí nghiệp P, ông H2 hỏi bị cáo có nhìn thấy người nào đã cắt trộm dây điện tại trụ điện số 2-8 và 2-9 không. Lúc này, bị cáo sợ bị ông H2 phát hiện hành vi trộm cắp tài sản của mình nên bị cáo H bỏ lại chiếc xe mô tô biển số 65V1-0528 và 01 túi vải bên trong chứa dây cáp điện rồi chạy trốn vào bãi đất có nhiều cây rậm cạnh đường. Ông H2 thấy bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên trình báo vụ việc đến Công an phường T. Công an phường T truy tìm và mời bị cáo về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi cắt trộm dây cáp điện để bán lấy tiền tiêu xài.
Vật chứng thu giữ:
- - 11,7 mét cáp điện kế nhãn hiệu CADIVI - CVV loại 2 x 25mm².
- - 01 xe mô tô hiệu Dream, màu xanh, số khung RLW0HPHYA1005101, số máy RL8152FMHA05101, biển số 65V1-0528.
- - 01 túi vải màu đen, đã qua sử dụng.
- - 02 cây bulông kim loại dài 30cm.
- - 01 cây bulông kim loại dài 26cm.
- - 01 kìm kim loại cán nhựa màu xanh, chiều dài 46cm.
Theo Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 24,8 mét cáp điện kế nhãn hiệu CADIVI - CVV loại 2 x 25mm², đã qua sử dụng trị giá là 3.769.600 đồng.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô hiệu Dream, màu xanh, số khung RLW0HPHYA1005101, số máy RL8152FMHA05101, biển số 65V1-0528. Quá trình điều tra xác định bị cáo H khai nhận đã mua xe mô tô từ khoảng tháng 11/2024 ở của người thanh niên (không rõ lai lịch) ở khu vực phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Theo kết quả tra cứu ngày 05/02/2025, xe mô tô có số khung RLW0HPHYA1005101, số máy RL8152FMHA05101 do ông Đồng Văn Hùng C đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2011, ông C bán xe cho người khác (không rõ lai lịch) nhưng không làm giấy tờ mua bán. Biển số xe 65V1-0528 là biển số của xe mô tô do bà Trần Thị Thùy D đứng tên chủ sở hữu. Khoảng năm 2010, bà D bán xe cho người khác (không rõ lai lịch) nhưng không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B báo truy tìm chủ sở hữu của 01 xe mô tô có số khung RLW0HPHYA1005101, số máy RL8152FMHA05101 và biển số 65V1-0528 nhưng chưa có kết quả.
- Đối với 11,7 mét cáp điện kế nhãn hiệu CADIVI - CVV loại 2 x 25mm² là tài sản hợp pháp của Tổng công ty Đ. Ngày 03/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao tài sản cho đại diện Tổng công ty Đ là bà Trần Thị Ngọc T.
* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Tổng công ty Đ là bà Trần Thị Ngọc T yêu cầu bị cáo H bồi thường chi phí khắc phục sửa chữa đối với việc thay thế cáp điện kế tại trụ điện số 2-8 và 2-9 là 4.298.832 đồng.
Tại Cáo trạng số 125/CT-VKSBC ngày 28/4/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đăng H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi vải màu đen, đã qua sử dụng; 02 cây bulông kim loại dài 30cm; 01 cây bulông kim loại dài 26cm; 01 kìm kim loại cán nhựa màu xanh, chiều dài 46cm; 01 biển số 65V1-0528.
- + Đối với 01 xe mô tô hiệu Dream, màu xanh, số máy RL8152FMHA05101, số khung RLW0HPHYA1005101. Xét, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khắc phục sửa chữa đối với việc thay thế cáp điện kế tại trụ điện số 2-8 và 2-9 là 4.298.832 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền trên cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 125/CT-VKSBC ngày 28/4/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tôi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình.
Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đại diện theo ủy quyền của bị hại (bà T) trình bày: Bà là người đại diện theo ủy quyền của bị hại Tổng công ty Đ. Bị hại Tổng công ty Đ yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khắc phục sửa chữa đối với việc thay thế cáp điện kế tại trụ điện số 2-8 và 2-9 với số tiền là 4.298.832 đồng. Bà đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Về hình phạt bị hại đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của bà để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bà Trần Thị Thùy D) trình bày: Bà không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Đồng Văn Hùng C) trình bày: Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để xét xử vắng mặt ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 03/01/2025 và ngày 05/01/2025, tại trụ điện số 2-8 và số B, đường NA4 thuộc khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Đăng H có hành vi lén lút lấy trộm 24,8 mét cáp điện kế nhãn hiệu CADIVI - CVV loại 2 x 25mm² trị giá là 3.769.600 đồng của Tổng công ty Đ để bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 125/CT-VKSBC ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo Nguyễn Đăng H thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[8.1] Đối với 01 túi vải màu đen, đã qua sử dụng; 02 cây bulông kim loại dài 30cm; 01 cây bulông kim loại dài 26cm; 01 kìm kim loại cán nhựa màu xanh, chiều dài 46cm. Xét, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[8.2] Đối với 01 biển số 65V1-0528. Xét, là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8.3] Đối với 01 xe mô tô hiệu Dream, màu xanh, số máy RL8152FMHA05101, số khung RLW0HPHYA1005101. Xét, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[9] Trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Đăng H bồi thường chi phí khắc phục sửa chữa đối với việc thay thế cáp điện kế tại trụ điện số 2-8 và 2-9 là 4.298.832 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[12] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 46, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2025.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng; 02 (một) cây bulông kim loại dài 30cm; 01 (một) cây bulông kim loại dài 26cm; 01 (một) kìm kim loại cán nhựa màu xanh, chiều dài 46cm; 01 (một) biển số 65V1-0528;
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Dream, màu xanh, số máy RL8152FMHA05101, không kiểm tra được số khung (xe không gương bên phải, không khóa, không có bửng, xe rỉ sét bong tróc. Tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng H bồi thường cho bị hại Tổng công ty Đ số tiền 4.298.832 (bốn triệu, hai trăm chín mươi tám ngàn, tám trăm ba mươi hai) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Án phí:
- + Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đăng H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- + Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đăng H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
- + Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/6/2025).
- + Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Quang Bảo |
Bản án số 114/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 114/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng H
