TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2025/HNGĐ-ST Ngày 15-04-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Á
- Ông Nguyễn Hữu Tố
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ba - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Minh Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 250A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1980
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
(Bà T có mặt; ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Thu T trình bày:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thu T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, tỉnh Bình Định ngày 05 tháng 10 năm 2006. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông T1 có quan hệ ngoại tình và những lời nói xúc phạm, đánh đập bà nhiều lần từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ái M, sinh ngày 02/6/2008 và Nguyễn Hoài Ngọc H, sinh ngày 08/6/2011. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 2.000.000đồng/tháng. Tại phiên tòa bà T tự nguyện không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn ông Nguyễn Văn T1: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 theo quy định của pháp luật nhưng ông T1 luôn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, không có tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các căn cứ của pháp luật để xem xét giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên về thủ tục nhận và xử lý đơn kiện chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 191,195 Bộ luật tố tụng hình sự.
Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các Điều 17,18,19,21, 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu T về việc ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ái M, sinh ngày 02/6/2008 và Nguyễn Hoài Ngọc H, sinh ngày 08/6/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi hai con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà T yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Văn T1; bị đơn ông T1 cư trú tại phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tiến hành xét xử vắng mặt ông T1.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Trần Thị Thu T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2006 ngày 05/10/2006. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà T cho rằng nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, ông T1 ngoại tình, có những lời nói xúc phạm và đánh đập bà, từ đó tình tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1 để ổn định cuộc sống. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 theo quy định pháp luật nhưng ông T1 luôn vắng mặt, từ diễn biến trên chứng tỏ ông T1 đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung:
Bà T và ông T1 có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ái M, sinh ngày 02/6/2008 và Nguyễn Hoài Ngọc H, sinh ngày 08/6/2011. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà T có việc làm, thu nhập ổn định, cháu M và cháu H hiện đang ở ổn định với bà T, đồng thời hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H nên cần giao cháu H bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận tự nguyện nuôi con của bà T, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình:
Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[4] Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn:
là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân:
- Về nuôi con chung:
- Về tài sản chung và nợ chung:
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình:
- Về quyền kháng cáo:
Bà Trần Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Văn T1.
Giao cháu Nguyễn Thị Ái M, sinh ngày 02/6/2008 và Nguyễn Hoài Ngọc H, sinh ngày 08/6/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà T, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi hai con.
Sau khi ly hôn, ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Trần Thị Thu T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) sung vào công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số: 0006867 ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc Bích |
Bản án số 114/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 114/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn T - T
