TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 114/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/6/2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Thế Huệ;
Ông Lê Hữu Tới.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1992.
- Nơi thường trú: 28 ngõ T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi ở hiện nay: Số C đường số C, L, quận T, thành phố Đ, Đài Loan.
- Người đại diện theo uỷ quyền của chị H nhận các văn bản tố tụng của Toà án: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1999.
- Nơi thường trú: Thộ Hạ, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội.
- Nơi ở hiện nay: Số B D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
- (Theo văn bản uỷ quyền ngày 17/02/2025).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Viết T, sinh năm 1988.
- Nơi thường trú: 28 ngõ T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi ở hiện nay: Số nhà B N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt chị H, anh T ( chị H và anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị H trình bày:
- - Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Viết T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên năm 2024 chị H xuất cảnh sang Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động. Do khoảng cách địa lý gây khó khăn cho cả hai bên khi giải quyết công việc gia đình khiến cho cuộc sống vợ chồng bế tắc, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không có cách nào giải quyết. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Nay, chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- - Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Nguyễn Phúc Anh K (giới tính: nam), sinh ngày 17/4/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Linh N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 16/8/2015. Hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng với bố mẹ đẻ của chị. Ly hôn chị H đề nghị Toà án giao cháu K và cháu N1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian chị đang làm việc tại nước ngoài chị đề nghị Toà án giao hai con cho ông bà ngoại là ông Hoàng Văn Đ1 và bà Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng chị đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, anh Nguyễn Viết T trình bày:
- - Về hôn nhân: Anh T có trình bày thống nhất với chị H về thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng; nguyên nhân, thời điểm phát sinh mâu thuẫn và thời gian vợ chồng sống ly thân. Nay chị H làm đơn khởi kiện ly hôn, anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên anh đồng ý ly hôn.
- - Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung như chị H trình bày. Ly hôn anh T đề nghị Toà án giao cháu Nguyễn Phúc A K và cháu Nguyễn Ngọc Linh N1 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh.
- - Về tài sản, công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L. Về con chung: giao cháu Nguyễn Phúc A K và cháu Nguyễn Ngọc Linh N1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh T. Về tài sản, công nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
[1. 1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị H khởi kiện vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, hiện nay chị H đang sinh sống tại Đài Loan còn bị đơn là anh Nguyễn Viết T hiện nay đang cư trú tại: Số nhà B N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1. 2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2. 1] Về hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên năm 2024 chị H có đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do khoảng cách địa lý gây khó khăn cho cả hai bên khi giải quyết công việc gia đình khiến cho cuộc sống vợ chồng bế tắc, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không có cách nào giải quyết. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Nay chị H làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh T cũng đồng ý. Như vậy có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị được ly hôn anh T.
[2.2]. Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Phúc Anh K (giới tính: nam), sinh ngày 17/4/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Linh N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 16/8/2015. Ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và cháu L1. Trong thời gian chị ở nước ngoài chị đề nghị Toà án giao cháu K và cháu L1 cho bố mẹ đẻ của chị trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Ly hôn anh T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và cháu L1, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh.
Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, chị H hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Anh T mặt dù là lao động tự do nhưng có thu nhập, chỗ ở ổn định. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của anh T là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K và cháu L1, không yêu cầu chị H đóng góp tiền nuôi con chung cùng với anh.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết T.
- Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là cháu Nguyễn Phúc Anh K (giới tính: nam), sinh ngày 17/4/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Linh N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 16/8/2015. Ly hôn giao cháu K và cháu L1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh T.
Chị H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0000628 ngày 01/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, chị H đã nộp đủ án phí.
Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh T quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Thu Phương |
Bản án số 114/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 114/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Hạnh khởi kiện ly hôn Nguyễn Văn Tiệp
