|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2025/DS-ST Ngày: 12 – 11 – 2025 V/v tranh chấp thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Thắng.
- Bà Lê Thị Mỹ Linh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương - là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 89/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Anh Lương Nhựt D, sinh năm 2000.
- Anh Lương Nhựt L, sinh năm 2006.
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp G, xã L, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Thị D1, sinh năm: 1974.
Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp G, xã L, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Địa chỉ liên hệ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C - Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Cần Thơ). Địa chỉ liên hệ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- + Ngân hàng N2. Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội (nay là Phường G, thanh phố Hà Nội).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức T – Chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh L3. Địa chỉ: Ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp C, xã V, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L trình bày:
Nguồn gốc phần đất là của ông Lương Công M (cha của anh L và anh D) nhận chuyển nhượng và được ủy ban nhân huyện L có ra quyết định giao đất số 181/98.QĐ.Ct.UBH ngày 11/5/1998, đến ngày 02/01/2001 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000353.QSDĐ/353. Năm 2000, thì ông Lương Công M và bà Lê Thị Diệu C1 sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn.
Sau khi cưới, ông M và bà D1 đã sử dụng phần đất đến năm 2007 thì ông M chết. Trong thời gian chung sống thì ông M và bà D1 có sinh được 02 người con là anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L. Sau khi ông M chết thì bà D1, anh D và anh L cùng sinh sống trên phần đất. Trong quá trình sử dụng đất, bà D1 có thực hiện thủ tục nhận thừa kế và đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/7/2013. Thời điểm bà D1 được cấp giấy chứng nhận do anh D và anh L chưa thành niên nên có cho bà D1 làm thủ tục đứng tên phần đất này.
Sau khi được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất thì bà D1 có thế chấp để vay của Ngân hàng N2. Sau khi vay không có khả năng thanh toán nên ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án và được Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết bằng quyết định số 90/2019/QÐST-DS ngày 16/9/2019. Hiện tại phần đất đang được Chi cục thi hành án dân sự thực hiện thủ tục bán đấu giá để thi hành án. Trong quá trình thi hành án đã tiến hành thủ tục định giá xác định tài sản có tổng giá trị là 531.937.000 đồng. Tuy nhiên, đây là phần di sản thừa kế do ông M để lại nên anh D và anh L được hưởng một phần trong khối tài sản này. Vì vậy, anh D và anh L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản thừa kế do ông Lương Công M chết để lại gồm phần đất tại thửa 1828, tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang và phần nhà trên đất có tổng giá trị là 531.937.000 đồng, cho anh D, anh Linh và bà Lê Thị D1 mỗi người một phần bằng nhau là 171.312.000 đồng. Anh D2 và anh L yêu cầu được nhận hiện vật, thống nhất trả giá trị cho bà D1.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị D1 trình bày:
Bà D1 và ông M sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá chung sống có 02 con chung là anh D2 và anh L. Sau khi cưới, bà và ông M sinh sống trên phần đất đang tranh chấp hiện nay. Nguồn gốc phần đất là do ông M nhận chuyển nhượng của Ủy ban nhân dân huyện L và đã được Ủy ban ra quyết định giao đất năm 1998. Phần đất này ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng năm nào bà không nhớ rõ. Đến năm 2007, ông M chết thì có bà D1 cùng anh D2 và anh L là người thừa kế nên bà D1 thực hiện thủ tục thừa kế phần đất này nhưng do anh anh D2 và anh L còn nhỏ nên phần đất này do một mình bà D1 đứng tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/7/2013.
Trước đây khi ông M còn sống do cần tiền sử dụng nên ông M và bà D1 có vay tiền của Ngân hàng N2 với số tiền 150.000.000 đồng. Sau khi ông M chết thì bà có đáo hạn cho ngân hàng và thực hiện thủ tục sang tên cho bà D1. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà có tiếp tục vay của Ngân hàng N2 với số tiền 250.000.000 đồng. Bà vay số tiền này để kinh doanh tạp hóa tại nhà. Lúc này anh D2 và anh L vẫn đang sống chung với bà D1. Tuy nhiên, việc kinh doanh không thuận lợi nên không có đủ tiền trả nợ cho ngân hàng. Năm 2019, ngân hàng có khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ và Tòa án đã giải quyết bằng quyết định số 90/2019/QÐST-DS ngày 16/9/2019 buộc bà D1 trả cho ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi là 313.250.000 đồng. Sau khi quyết định có hiệu lực bà D1 không có tiền để thi hành án nên Chi cục thi hành án huyện Long Mỹ đang thực hiện thủ tục bán đấu giá phần nhà và đất để thi hành án.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà D1 cũng thống nhất chia giá trị tài sản chung thành 03 phần bằng nhau.
Ông Lê Văn C là người đại diện theo ủy quyền của Thi hành án dân sự thành phố C trình bày:
Hiện tại bà Lê Thị D1 có nghĩa vụ chấp hành 06 Quyết định thi hành án trả tiền cho 05 cá nhân, tổ chức như sau:
- Trả cho bà Lê Ngọc L1 số tiền là 63.400.000 đồng và 18.300.000 đồng.
- Trả cho bà Võ Mỹ N số tiền 29.620.000 đồng.
- Trả cho La Thị L2 số tiền 250.000.000 đồng.
- Trả cho Nguyễn Thị Thi N1 số tiền 243.270.000 đồng.
- Trả cho Ngân hàng N2 số tiền 313.250.000 đồng.
Về phần tài sản: Bà Lê Thị Diệu C2 có một tài sản duy nhất là phần đất và nhà đang tranh chấp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ không có ý kiến gì, yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Ông Lê Đức T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ngân hàng N2 trình bày:
Trước đây Ngân hàng đã khởi kiện bà Lê Thị D1 và đã được giải xong nên Ngân hàng yêu cầu thi hành theo quy định pháp luật. Hiện tại số tiền vốn và lãi tính đến ngày 12/11/2025 là 521.325.342 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ngân hàng không đồng ý. Vì phần nhà và đất đang tranh chấp bà D1 đã thế chấp để vay của Ngân hàng nên trường hợp bà D1 không trả đủ cho ngân hàng thì phải xử lý tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Nhựt D và Lương Nhựt L. Xác định diện tích đất 43,3m² và phần nhà trên đất của ông M để lại là di sản thừa kế. Chia di sản thừa kế thành 03 phần cho các đồng thừa kế được hưởng theo quy định của pháp luật, mỗi người được hưởng 01 kỷ phần bằng nhau. Tuy nhiên, di sản đã được thế chấp nên chia giá trị tài sản cho các nguyên đơn, chia hiện vật cho bị đơn. Về án phí, chi phí tố tụng buộc các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; qua kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thị D1 phân chia di sản thừa kế của ông Lương Công M để lại theo quy định pháp luật. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ.
[2]. Về kết quả đo đạc, thẩm định: Các đương sự thống nhất kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số: 09/SHC ngày 10/02/2025 của Công ty Cổ phần Đ; đất tọa lạc tại ấp G, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang). Khi đo đạc thực tế các bên không phát sinh tranh chấp mốc ranh giới đối với thửa đất của những người khác đang sử dụng đất liền kề.
[3] Về giá trị tài sản: Quá trình giải quyết và tại phiên toà, đương sự thống nhất sử dụng kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá số: 201/BĐS ngày 05/7/2024 của Công ty cổ phần T1. Đây là kết quả Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
[4] Về hàng thừa kế:
Ông Lương Công M chết năm 2007 không để lại di chúc. Các đương sự đều khai thống nhất, sinh thời ông M có tất cả 02 người con gồm: anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L.
Bị đơn bà Lê Thị D1 khai năm 2000 bà D1 và ông Lương Công M có chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Qua trích lục thông tin đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Cà Mau thì không thể hiện hồ sơ đăng ký kết hôn của ông M và bà D1. Do đó, bà D1 và ông M không được công nhận là vợ chồng. Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 thì bà D1 không phải là hàng thừa kế thứ nhất của ông M.
Như vậy, hàng thừa kế thứ nhất của ông M tại thời điểm mở thừa kế gồm: Anh Lương Nhựt D và Lương Nhựt L.
[5]. Về thời hiệu thừa kế: Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Ông M chết năm 2007 nên thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn còn theo quy định.
[6]. Về nguồn gốc di sản thừa kế: Di sản thừa kế là tài sản của ông M tạo lập được gồm phần đất theo giấy chứng nhận diện tích 43,3m² (theo đo đạc thực tế diện tích 43,3m²) tại các thửa 1828 toạ lạc tại ấp G, xã L, thành phố Cần Thơ (địa chỉ cũ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang). Ngày 02/01/2001, ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00353.QSD/353. Đối với phần nhà khung bê tông, cốt thép, nền lát gạch Ceramic, gác ván, vách tường chung, mái lợp tol đến ngày 04/7/2013 bà Lê Thị D1 mới kê khai đăng ký nhưng căn nhà đã có trước khi ông M và bà D1 chung sống.
[7]. Xét yêu cầu của anh D và anh L là có căn cứ, bởi toàn bộ phần đất tại thửa 1828 và căn nhà trên đất là của ông M có trước khi cưới bà D1. Sau khi cưới ông M và bà D1 không có đăng ký kết hôn. Khi ông M chết bà D1 thực hiện thủ tục thừa kế được chỉnh lý biến động sang tên ngày 10/7/2008. Ngày 04/7/2013, bà D1 thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận bổ sung căn nhà. Ngày 08/8/2013, bà D1 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, bà D1 không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông M nên trình tự cấp giấy chứng nhận chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Mặc dù bà D1 không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông M nhưng sau khi ông M chết, di sản thừa kế do bà D1 đang quản lý từ thời điểm mở thừa kế đến nay. Hơn nữa, bà D1 là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục anh D và anh L sau khi ông M chết. Do đó, cần dành một suất tương đương 01 kỷ phần đề trả thù lao bảo quản di sản cho người quản lý di sản theo quy định tại Điều 618 Bộ luật dân sự năm 2015 trước khi phân chia thừa kế và cũng phù hợp với ý chí của anh D và anh L. Tổng giá trị của di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và nhà có tổng giá trị là 531.937.000 chia làm 03 phần, tương đương mỗi kỷ phần là 177.312.000 đồng. Thù lao quản lý di sản được chia cho bà D1 là 177.312.000 đồng.
[8]. Về hiện vật, phần đất có tổng diện tích 43,3m² và phần nhà trên đất bà D1 đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7002-LCP-201400531 ngày 28/5/2014 để đảm bảo cho khoản vay của bà tại Ngân hàng N2; khoản vay này đã được Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ ra Quyết định công nhận thỏa thuận số 90/2019/QÐST-DS ngày 16/9/2019 buộc bà D1 trả cho ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi là 313.250.000 đồng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ đã Quyết định thi hành án và thực hiện thủ tục bán đấu giá tài sản. Như vậy, đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1828, tờ bản đồ số 7, diện tích 43.3m² đang tranh chấp là đối tượng bị xử lý phát mãi để thi hành án khoản tiền vay của bà D1 cho Ngân hàng N2. Do đó, việc bà D1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00746 ngày 08/7/2013 và khi bà D1 giao dịch với Ngân hàng N2 thì ngân hàng không thể biết và không có nghĩa vụ kiểm tra tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00746 đã cấp cho D1. Cho nên, theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng như quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 về: “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu” thì giao dịch “hợp đồng thế chấp tài sản” giữa bà D1 với Ngân hàng N2 là giao dịch hợp pháp và Ngân hàng N2 là “người thứ ba ngay tình” cần phải được bảo vệ và không bị vô hiệu. Nguyên đơn không có quyền đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1282, tờ bản đồ số 7, diện tích 43,3m² đang tranh chấp và không thể hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00746 mà phải xử lý, thu hồi nợ vay cho Ngân hàng N2. Để bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của mình, nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu bà D1 phải hoàn trả giá trị và bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, nguyên đơn chỉ có quyền yêu cầu bị đơn hoàn trả giá trị của di sản mà không có quyền nhận hiện vật.
[9]. Xét về giá trị di sản thừa kế mà các đồng thừa kế được hưởng; theo kết quả định giá tại Chứng thư thẩm định giá số: 201/BĐS ngày 05/7/2024 của Công ty cổ phần T1 thì phần nhà và đất có giá trị như sau: 531.937.000 đồng. Do hợp đồng thế chấp giữa bị đơn bà Lê Thị D1 và Ngân hàng N2 không bị vô hiệu nên chia phần nhà và đất cho bà D1, bà D1 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho nguyên đơn anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L mỗi người 177.312.000 đồng.
[13]. Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L về chia thừa kế. Tuy nhiên, nguyên đơn anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L chỉ được chia giá trị mỗi người 177.312.000 đồng. Bị đơn bà Lê Thị D1 được chia quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1282, tờ bản đồ số 7, diện tích 43,3m². Bà D1 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho nguyên đơn anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L mỗi người 177.312.000 đồng.
[14] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí tố tụng là 3.614.000 đồng. Căn cứ Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Lương Nhựt D, anh Lương Nhựt L phải nộp là 2.409.000 đồng, đã nộp xong. Bị đơn bà Lê Thị D1 phải nộp là 1.205.000 đồng để hoàn trả cho nguyên đơn anh Lương Nhựt D, anh Lương Nhựt L.
[15] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn anh Lương Nhựt D, anh Lương Nhựt L và bị đơn bà Lê Thị D1 mỗi người phải chịu là 8.865.600 đồng.
Nguyên đơn anh Lương Nhựt D được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 4.282.000 đồng đã nộp theo lai thu số 0010201 của Chi cục thi hành án dân sự huyên Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ) thành án phí. Như vậy, nguyên đơn anh Lương Nhựt D còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí là 4.583.600 đồng.
Nguyên đơn anh Lương Nhựt L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 4.282.000 đồng đã nộp theo lai thu số 0010200 của Chi cục thi hành án dân sự huyên Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ) thành án phí. Như vậy, nguyên đơn anh Lương Nhựt L còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí là 4.583.600 đồng.
[16] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 623, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lương Nhựt D và anh Lương Nhựt L về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế.
- Chia cho nguyên đơn anh Lương Nhựt D được hưởng phần thừa kế bằng giá trị số tiền là 177.312.000 đồng. Bị đơn bà Lê Thị Diệu P hoàn trả cho nguyên đơn anh Lương Nhựt D số tiền là 177.312.000 đồng.
- Chia cho nguyên đơn anh Lương Nhựt L được hưởng phần thừa kế bằng giá trị số tiền là 177.312.000 đồng. Bị đơn bà Lê Thị Diệu P hoàn trả cho nguyên đơn anh Lương Nhựt L số tiền là 177.312.000 đồng.
- Chia cho bị đơn bà Lê Thị Diệu Q sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1282, tờ bản đồ số 7, diện tích 43,3m². Diện tích, kích thước các cạnh được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 09/SHC ngày 10/02/2025 của Công ty Cổ phần Đ (kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn anh Lương Nhựt D, anh Lương Nhựt L phải nộp là 2.409.000 đồng, đã nộp xong. Bị đơn bà Lê Thị D1 phải nộp là 1.205.000 đồng để hoàn trả cho nguyên đơn anh Lương Nhựt D, anh Lương Nhựt L.
- Về án phí: Nguyên đơn anh Lương Nhựt D, anh Lương Nhựt L và bị đơn bà Lê Thị D1 mỗi người phải chịu là 8.865.600 đồng.
Nguyên đơn anh Lương Nhựt D được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 4.282.000 đồng đã nộp theo lai thu số 0010201 của Chi cục thi hành án dân sự huyên Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ) thành án phí. Như vậy, nguyên đơn anh Lương Nhựt D còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí là 4.583.600 đồng.
Nguyên đơn anh Lương Nhựt L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 4.282.000 đồng đã nộp theo lai thu số 0010200 của Chi cục thi hành án dân sự huyên Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ) thành án phí. Như vậy, nguyên đơn anh Lương Nhựt L còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí là 4.583.600 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thới Phần |
Bản án số 114/2025/DS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 114/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh D và anh L khởi kiện bà D1 yêu cầu chia thừa kế
