Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2025/DS-PT

Ngày: 11-03-2025

V/v “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Ông Trần Quốc Vũ.
  2. Ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 và 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 182/2024/DS-ST ngày 19-12-2024 của tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 74/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, (sinh năm 1939, chết ngày 31/10/2022). Nơi cư trú: số B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Huỳnh Thị H gồm:

    1. Bà Nguyễn Thúy L, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    3. Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    4. Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; văng mặt.
    5. Ông Nguyễn Tấn D, sinh năm 1975; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    6. Ông Nguyễn Tấn L1, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

    - Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn D ông Nguyễn Tấn L1 là:

    Ông Võ Văn L2, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Theo văn bản uỷ quyền ngày 23/6/2023; có mặt.

    - Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tấn L1 là:

    Ông Lê Phước Ý, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số E, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Theo văn bản uỷ quyền ngày 28/12/2023; có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1942; nơi cư trú: Số B đường T, ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà H1:

    Ông Trần Văn C1; sinh năm 1980; nơi cư trú: số B, đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

    Ông Nguyễn Thanh L3, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số D, Nguyễn Văn O, khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1978. Cháu Nguyễn Khánh D1, sinh năm 2005; cháu Nguyễn Khánh N1, sinh năm 2016 – là các con của ông N; vắng mặt.

    Người đại diện theo pháp luật của cháu N1: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1975 (Cha ruột của cháu N1). Cùng trú tại: số C, đường T, ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

  4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2006 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bà Huỳnh Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 (là những người kế thừa quyền nghĩa vụ bà Huỳnh Thị H), ông Võ Văn L2 trình bày:

Nguyên cha mẹ bà H là cụ Huỳnh Văn M (sinh năm 1907 chết năm 1983) và cụ Đinh Thị S (sinh năm 1913, chết năm 1992) tạo lập được phần đất diện tích 5 mẫu, 16 sào, 27 cao, toàn bộ diện tích đất trồng cây cao su, được Ty Điền Địa T cấp Lược đồ ngày 20/8/1964.

Cụ M và cụ S có 10 người con gồm: Huỳnh Thị D2, Huỳnh Kim Q chết khi còn nhỏ, Huỳnh Văn T2, Huỳnh Văn T3 chết khi đã thành niên, không vợ con, còn lại 5 người là Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị G, Huỳnh Thị D3, Huỳnh Văn T4, Huỳnh Văn C2.

Năm 1983, cụ M chết, ngày 26/4/1992, cụ S và 05 người con ký giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ đất trồng cây cao su lại cho bà H, bà D3.

Bà Huỳnh Thị D3 được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03246 QSDĐ/D13 đối với thửa đất 241, tờ bản đồ số 3, diện tích 46.960 m², đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh.

Bà Huỳnh Thị H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03246 QSDĐ/D13, ngày 14/10/1995 đối với thửa đất 241, tờ bản đồ số 3, diện tích 46.960 m², đất tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh.

Bà H đã làm thủ tục chuyển nhượng, tặng cho nhiều người nên diện tích đất còn lại của bà H là 4.624 m². Do đó, ngày 02/8/2002, bà H được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04753/QSDĐ/162/QĐ-CT với diện tích đất 4.624m².

Năm 2002, bà H yêu cầu những người ở trên đất của bà di dời trả tài sản cho bà, cụ thể bà Nguyễn Thị H1 chiếm dụng diện tích đất 7m ngang x dài 17,6m. Vụ tranh chấp đã được giải quyết theo các Bản án số 77/DSST, ngày 20/9/2002 của TAND huyện Hòa Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh và Bản án số 145/PTDS, ngày 26/11/2002 của TAND tỉnh Tây Ninh giải quyết buộc bà H1 phải trả lại diện tích chiếm dụng 7 m x17,6 m cho bà H.

Ngày 27/12/2005, Tòa dân sự TAND Tối cao hủy các Bản án số 77, 145 nêu trên để giải quyết lại vụ án vì bà H1 trình bày bà ở trên đất của Tòa T Tây Ninh nhưng trong quá trình giải quyết vụ án không đưa Tòa Thánh Tây N2 vào tham gia tố tụng.

Tại Bản án số 14/2020/DS-ST, ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và Bản án số 683/2022/DS-PT, ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tòa T.

Ông Nguyễn Tấn P, (sinh năm 1939, chồng bà Huỳnh Thị H chết ngày 12/04/2013).

Nay bà Huỳnh Thị H đã chết, các bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 tiếp tục khởi kiện và yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 và các con cháu của bà đang sinh sống trên đất của gia đình bà H di dời trả đất theo diện tích chiếm dụng thực tế là 528,3m².

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tấn L1 là anh Lê Phước Ý trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Võ Văn L2 không bổ sung gì thêm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và người đại diện theo ủy quyền của bà H1 là ông Trần Văn C1, ông Trần Quốc V trong quá trình giải quyết vụ án thống nhất trình bày:

Về nguồn gốc đất gia đình bà H1 đã sử dụng ổn định từ trước năm 1975, do khai hoang và sử dụng có đơn xác nhận của UBND xã L ngày 12/01/2023, phần đất gia đình bà hiện đang sử dụng thuộc thửa 278, tờ bản đồ số 6, diện tích 422,8 m², tọa lạc tại số C, đường T, ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

Gia đình bà H1 sử dụng cất nhà sinh sống ổn định từ năm 1975 đến nay, không có ai tranh chấp, đất của bà H là đất trồng cây cao su, bà H1 ở không có trồng cây cũng không có chặt cây, bởi khi bà H chặt cây có làm đơn xin ý kiến của UBND huyện H. UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà H không đúng quy định, gia đình bà H1 do không có điều kiện kinh tế để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa được UBND huyện H xem xét cấp giấy.

Ngày 10/9/2024 bà H1 có đơn phản tố, nội dung trình bày UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà H không đúng quy định bởi đã cấp giấy cho người không sử dụng và tại thời điểm cấp giấy đất đang tranh chấp. Nay bà H1 yêu cầu tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03246, do UBND huyện H (Nay là thị xã H) cấp cho bà H ngày 14/10/1995 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện H (Nay là thị xã H) cấp cho bà H ngày 02/8/2002.

Việc gia đình bà H khởi kiện yêu cầu bà H1 trả lại diện tích đất, bà H1 không đồng ý. Nay bà H1 yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà H1, tuyên hủy một phần giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số 03246, ngày 14/10/1995 với diện tích 46.960m² do UBND huyện H, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị H đối với phần đất diện tích 919,9 m² do gia đình bà quản lý sử dụng từ năm 1975.

Công nhận cho bà quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 919,9 m², thuộc thửa 241, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, là diện tích bà H1 sử dụng và đã chia cho con gái tên X và con rể tên N3 đang sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị X thống nhất lời trình bày của bà H1, không trình bày gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 182/2014/DS-ST ngày 19-12-2024, của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, quyết định.

Căn cứ vào Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 2; Điều 3 Luật đất đai năm 1993; Điều 73, 105, 106 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 166, 203 Luật Đất Đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H (đã chết): Bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

  2. Buộc bà Nguyễn Thị H1, có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 số tiền là 5.093.897.000 (năm tỷ không trăm chín mươi ba triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn) đồng.

  3. Giao cho bà Nguyễn Thị H1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 528,3 m², thửa số 17, tờ bản đồ 06 (Theo BĐĐC CV-2000), tọa lạc tại ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04753 QSDĐ/162/QĐ-CT, do UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp cho bà Huỳnh Thị H, ngày 02/8/2002; đất có tứ cận:

    • + Bắc giáp một phần thửa 17 dài 30,24m; giáp thửa 13 dài 15,28m.
    • + Nam giáp thửa 17 dài 21,59m; giáp thửa 40 dài 19,69m.
    • + Đông giáp đường T dài 11,9m + 0,56m.
    • + Tây giáp thửa 39 dài 15,72m.

    (Có sơ đồ kèm theo)

    Bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm Thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31-12-2024, bà Nguyễn Thị H1 có đơn kháng cáo không đồng ý khởi kiện của bà H2, yêu cầu Tòa án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện bà H1 trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện các con bà H2 trình bày: không đồng ý kháng cáo của bà H1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bà H1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng trích cho bà H1 một phần giá trị đất tranh chấp vì bà H1 có công gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị đất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H1 kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

  2. Xét kháng cáo của bà H1 thấy rằng:

    1. Theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất thể hiện phần đất tranh chấp bà H1 (BĐ) sử dụng có diện tích 528,3 m² thuộc thửa 17 (cũ 241) tờ bản đố số 06 nằm trong giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà H đứng tên. Đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Có nguồn gốc của cụ S và cụ M1 (trước đây là đất trồng cao su) do bà H hưởng thừa kế của cha mẹ là cụ Huỳnh Văn M1 và cụ Đinh Thị S có từ trước năm 1964. Do Ty Điền Địa Chính tỉnh Tây Ninh cấp chứng nhận ngày 18/8/1964.

    2. Năm 1975, bà H1 đến đất cất nhà lá sinh sống khi cụ M1 và cụ S còn sống không ai có ý kiến gì. Sau đó bà H1 xây nhà tường cấp 4. Năm 1995, bà H mới kê khai đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên bản án sơ thẩm tuyên buộc bà H1 trả lại đất cho bà H (giá trị bằng tiền) là phù hợp quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự và Điều 166 Luật đất đai. Tuy nhiên bà H1 là người trực tiếp sử dụng đất đến nay là 50 năm. Bà H1 sử dụng đất thời gian dài đã xây dựng căn nhà tường cấp 4 có giá trị là 567.582.955 đồng. Nên bà H1 đã có công sức gìn giữ, bảo quản, tôn tạo làm tăng giá trị diện tích 528,3 m² đất nhưng cấp sơ thẩm không xem xét trích cho bà H1 một phần công sức quản lý, gìn giữ, tôn tạo đối với phần đất tranh chấp là chưa đánh giá toàn diện chứng cứ hồ sơ vụ án.

    3. Do đó, cần trích cho bà H1 50% giá trị đất. Theo kết quả chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T5 ngày 10/9/2024, giá đất thực tế là 9.642.054 đồng/m2, đất có giá là 528,3m² x 9.642.054 đồng/m²=5.093.897.000 đồng x 50% = 2.546.948.500 đồng. Nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà H1. Bà H1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 528,3 m², thửa số 17, tờ bản đồ 06 đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Có trách nhiệm trả lại cho các con của bà H gồm: bà L, bà T, ông T1, ông C, ông D và ông L1 số tiền 2.546.948.500 đồng là có căn cứ.

    4. Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 182/2014/DS-ST ngày 19-12-2024, của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

    5. Về chi phí tố tụng: Do chấp nhận một phần kháng cáo của bà H1 nên bà H1 chỉ chịu ½ giá trị tiền định giá của số tiền 38.000.000 đồng là 19.000.000 đồng. Do ông L1 đã nộp xong. Bà H1 phải trả cho ông L1 số tiền là 19.000.000 đồng. Bà H1 phải chịu số tiền thẩm định giá là 1.800.000 đồng.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kháng cáo của bà H1 được chấp nhận nên bà H1 không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 2; Điều 3 Luật đất đai năm 1993; Điều 73, 105, 106 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 166, 203 Luật Đất đai; căn cứ khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1.

  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 182/2014/DS-ST ngày 19-12-2024, của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H (đã chết): Bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

    Buộc bà Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 số tiền là 2.546.948.500 (hai tỷ năm trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm) đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

    Giao cho bà Nguyễn Thị H1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 528,3 m², thửa số 17, tờ bản đồ 06 (Theo BĐĐC CV-2000), tọa lạc tại ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04753 QSDĐ/162/QĐ-CT, do UBND huyện H (Nay là thị xã H) cấp cho bà Huỳnh Thị H, ngày 02/8/2002; đất có tứ cận:

    • + Bắc giáp một phần thửa 17 dài 30,24m; giáp thửa 13 dài 15,28m.
    • + Nam giáp thửa 17 dài 21,59m; giáp thửa 40 dài 19,69m.
    • + Đông giáp đường T dài 11,9m + 0,56m.
    • + Tây giáp thửa 39 dài 15,72m.

    (Có sơ đồ kèm theo)

    Bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

  4. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị H1, phải trả cho ông Nguyễn Tấn L1 số tiền là 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.

    Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu chi phí là 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng, ghi nhận bà H1 đã nộp xong.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Bà Huỳnh Thị H không phải chịu án án. Ghi nhận bà H đã nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.134.000 (hai triệu một trăm ba mươi bốn nghìn) đồng theo Biên lai thu số 003432, ngày 21/5/2002 của Chi cục Thi hành án huyện Hòa Thành (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh.

    - Bà Nguyễn Thúy L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Tấn T1, ông Nguyễn Tấn C, ông Nguyễn Tấn D và ông Nguyễn Tấn L1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông L1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011077 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành.

    - Bà Nguyễn Thị H1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu.

  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày truyên án./.

Nơi nhận:

  • - PKTNV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND thị xã Hòa Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Hòa Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 114/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger