Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Võ Văn Giáp
    2. Bà Nguyễn Thị Phúc
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Thanh Bình - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ Hôn nhân gia đình lý số: 57/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự.

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày: 15 tháng 4 năm 1997; trú tại: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên toà.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Viết N, sinh ngày: 16 tháng 7 năm 1993; trú tại: xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024 và bản khai ngày 17/5/2024 có tại hồ sơ vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Viết N đăng ký kết hôn ngày 10/2/2017 theo quy định của pháp luật tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau. Vợ chồng cũng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không được. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, không còn qua lại hay liên lạc gì với nhau. Nay chị H nhận thấy tình cảm của chị đối với anh Nguyễn Viết N không còn, không thể nào đoàn tụ nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Viết N.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Thị Khánh Q, sinh ngày 22/11/2017 và Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 09/01/2020. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi con lớn là cháu Nguyễn Thị Khánh Q và giao con nhỏ là Nguyễn Hoàng A cho anh Nguyễn Viết N chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu anh Nguyễn Viết N không đồng ý nuôi con và giao cả hai con con cho chị H nuôi thì chị H cũng đồng ý và không yêu cầu anh N cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không vay ai và cũng không cho ai vay nợ vì vậy không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh Nguyễn Viết N, giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Viết N.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án làm các thủ tục tống đạt các giấy tờ, văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh Nguyễn Viết N vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể lấy ý kiến và xem xét đến nguyện vọng của anh Nguyễn Viết N được.

Tại biên bản xác minh ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An thể hiện anh Nguyễn Viết N đã biết việc chị Nguyễn Thị H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ và đã được Tòa án thụ lý giải quyết nhưng anh N không có ý kiến gì. Đồng thời thông qua biên bản xác minh này có thể xác định, các con của chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Viết N hiện nay đang được bố mẹ anh Nguyễn Viết N là ông Nguyễn Việt T, bà Trương Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng do chị H và anh N đều đi làm ăn xa. Ông T, bà H1 không có yêu cầu về chi phí chăm sóc các cháu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 Điều 39 BLTTDS; Việc tống đạt các văn bản cho các đương sự tham tố tụng thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của họ. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, quyết định xét xử cho anh Nguyễn Viết N nhưng anh N vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N theo các điều 227, 228 BLTTDS là có cơ sở.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 71, 72, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, điều 208, điều 220, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết N.

Về con chung: Do anh Nguyễn Viết N không thể hiện ý kiến của mình và hiện đang đi làm ăn xa. Căn cứ vào nguyện vọng của chị Nguyễn Thị H cần giao cháu Nguyễn Thị Khánh Q, sinh ngày 22/11/2017 và cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 09/01/2020 cho chị Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho tới khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh Nguyễn Viết N do chị Nguyễn Thị H chưa có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng K yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Nguyễn Viết N đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An nên căn cứ tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Viết N đúng quy định tại các 208, 220 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh N đều không hợp tác và vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt anh N là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tình trạng hôn nhân: Xét cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Viết N là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/2017 theo quy định của pháp luật tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống được với nhau một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không phù hợp, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Nay chị H kiên quyết xin ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa chị H và anh N đã thực sự không còn, hai bên không quan tâm đến cuộc sống chung của nhau nữa, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn hôn anh Nguyễn Viết N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Khánh Q, sinh ngày 22/11/2017 và cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 09/01/2020. Sau ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi con lớn là cháu Nguyễn Thị Khánh Q và giao con nhỏ là Nguyễn Hoàng A cho anh Nguyễn Viết N chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu anh Nguyễn Viết N không đồng ý nuôi con và giao cả hai con cho chị H nuôi thì chị H cũng đồng ý và không yêu cầu anh N cấp dưỡng tiền nuôi con.

Căn cứ vào tình trạng thực tế của chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Viết N và việc anh Nguyễn Viết N hiện nay không có mặt tại địa phương, không trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình tại Tòa án. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Thị Khánh Q, sinh ngày 22/11/2017 và cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 09/01/2020 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc con cho tới khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh Nguyễn Viết N do chị Nguyễn Thị H chưa có yêu cầu là phù hợp.

[5] Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Khánh Q, sinh ngày 22/11/2017 và cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 09/01/2020 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc cho tới khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh Nguyễn Viết N do chị Nguyễn Thị H chưa có yêu cầu

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai 0000102 ngày 06/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị T1 đã nộp đủ án phí Dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/8/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại nơi cư trú của bị đơn.

Nơi nhận:

  • - TAND, Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Nghĩa Đồng Tân Kỳ;
  • - THA DS huyện Tân Kỳ;
  • - Lưu: hồ sơ;
  • - Lưu VP/TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Giáp

Nguyễn Thị Phúc

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 30/8/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger