Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EAH'LEO

TỈNH ĐĂKLĂK

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 25-09-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH'LEO

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ksor Y Nai và ông Lưu Văn Toan.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên toà: Ông Ksơr Y Kơn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 09 năm 2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện EaH'Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37a/2024/QĐHS - ST ngày 06 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Đình H, sinh năm 1977; Tại tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đình C (đã chết) và bà Ngô Thị D, sinh năm 1941; có vợ Võ Thị T, sinh năm 1977 (Đã ly hôn); Có 04 người con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 29/5/2024. Có mặt

Bị hại: Bà Lê Thị N, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim C1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số E, tổ C, khu phố H, T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

- Người làm chứng:

Bà Dương Thị S, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

Ông Trần Thanh V, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17/3/2024, Hà Đình H đi bộ đến nhà của bà Võ Thị L ở cùng thôn C, xã C, huyện E, mục đích để viếng đám tang con trai của bà L. Trên đường đi, H gặp người quen là anh Nguyễn Văn T1 đang đi xe mô tô nên có nhờ anh T1 chở mình đến nhà bà L, khoảng 22 giờ cùng ngày, anh T1 về trước còn H ở lại. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, H đi ra phía trước cổng nhà bà L để về nhà, phát hiện thấy có xe mô tô biển số 61H5 - 5635 của bà Lê Thị N, cũng là người đi viếng đám tang con trai bà L đang để ở đây nên H nảy sinh ý định trộm cắp về làm phương tiện đi lại, H tiếp cận xe mô tô dùng tay rút dây kết nối với bình điện rồi khởi động mô tô điều khiển mang về nhà, tháo biển số xe ra cất giấu, rồi lấy biển số xe mô tô 47K8 - 5335 H nhặt được trước đó gắn vào xe mô tô của bà N, mục đích để bà N và người khác không phát hiện. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, H điều khiển xe mô tô của bà N đi ra khu vực chợ xã C để mua rau, thì bị bà N phát hiện, trình báo sự việc đến cơ quan chức năng

Tại kết luận định giá tài sản số 38/KT-HĐĐGTS, ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tụng Hình sự huyện E, kết luận: 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 47K8 - 5335, được mua vào tháng 6/2022 với giá 1.500.000 đồng. Đến tháng 12/2023 đã được sửa chữa các bộ phận với chi phí 2.450.000 đồng. Tổng giá trị định giá là: 2.800.000 đồng

Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo truy tố để xét xử đối với bị cáo Hà Đình H về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Hà Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s, khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Đình H từ 04 đến 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tạm giữ: 01 biển số kiểm soát 61H5 - 5635; 01 xe mô tô nhãn hiệu SEASPORT, số máy 02234179, số khung 20013479; giấy chứng nhận đăng ký xe số 0019333 mang tên Lê Thị Kim C1. Kết quả xác minh chiếc xe mô tô này, gia đình bà N mua lại của bà Lê Thị Kim C1, ở Ấp F, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào tháng 6/2022, với giá là 1.500.000 đồng, đến khoảng tháng 12/2023 gia đình bà N mang chiếc xe này đi tu sửa và thay thế một số bộ phận trong xe. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã trả lại xe mô tô kèm theo biển kiểm soát 61H5 -5635 và giấy chứng nhận đăng ký xe số 0019333 cho người bị hại bà Lê Thị N quản lý và sử dụng.

Đối với biển kiểm soát 47K8 - 5335, kết quả xác minh xác định: Đây là đăng ký xe mô tô mang tên ông Y Phak S1, trú tại Buôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Xe mô tô này ông Y Phak S1 đã bán cho người khác từ lâu, không xác định được tên và địa chỉ, vì ông Y Phăk S2 đã chết năm 2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã bàn giao biển số này cho Công an huyện E, xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị hại bà Lê Thị N đã nhận lại tài sản bị mất, hiện tại bà N không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về cáo trạng và cũng không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa về cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, tại thôn C, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Hà Đình H đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Lê Thị N 01 xe mô tô biển số kiểm soát 61H5 - 5635, nhãn hiệu SEASPORT có giá trị 2.800.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

Như vậy, hành vi lén lút trộm cắp các tài sản nói trên của bị cáo, đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ nhận thức biết rõ hành vi phạm tội của bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do lười lao động muốn có phương tiện để đi lại, bị cáo đã đổi biển số xe nhằm che giấu hành vi phạm tội, bị cáo dùng xe mô tô trộm cắp được di chuyển tại địa phương nơi bị hại sinh sống thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhằm tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật và nhằm giao dục, răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị N đã nhận lại tài sản bị mất, hiện tại bà N không có yêu cầu gì, nên không đề cập xem xét.

[5]. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã bàn giao 01 biển số kiểm soát 61H5 – 5635 và giấy chứng nhận đăng ký xe số 0019333 cho người bị hại bà Lê Thị N là người quản lý và sử dụng hợp pháp.

Đối với biển kiểm soát 47K8 - 5335, đây là đăng ký xe mô tô mang tên ông Y Phak S1, trú tại Buôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Xe mô tô này ông Y Phăk S2 đã bán cho người khác tử lâu, không xác định được tên và địa chỉ, vì ông Y Phăk S2 đã chết năm 2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã bàn giao biển số này cho Công an huyện E, xử lý theo quy định.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải bàu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Đình H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã bàn giao 01 biển số kiểm soát 61H5 – 5635 và giấy chứng nhận đăng ký xe số 0019333 cho bị hại bà Lê Thị N.

Đối với biển kiểm soát 47K8 - 5335, đây là đăng ký xe mô tô mang tên ông Y Phak S1, trú tại Buôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Xe mô tô này ông Y Phak S1 đã bán cho người khác tử lâu, không xác định được tên và địa chỉ, vì ông Y Phăk S2 đã chết năm 2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã bàn giao biển số này cho Công an huyện E, xử lý theo quy định.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Đình H phải bàu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk;
  • - Viện KSND huyện Ea H'Leo;
  • - Công an huyện Ea H'Leo;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Ea H'Leo;
  • - Chi cục THADS huyện Ea H'Leo;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH'LEO TỈNH ĐĂKLĂK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH'LEO TỈNH ĐĂKLĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Đình Hùng 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger