|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 21-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Minh Hoàng và Nguyễn Văn Đâu.
Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hương-Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Mậu T, sinh năm 1993, tại tỉnh Quảng Nam. Nơi thường trú: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ C và bà Huỳnh Thị S; chưa có vợ con; tiền án: ngày 25/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt chính ngày 22/01/2023 và các quyết định khác ngày 15/9/2022, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; bị bắt tạm giữ ngày 26-10-2023 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 22 giờ 10 phút ngày 26-10-2023), tạm giam ngày 02-11-2023 “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 26/10/2023, Tổ công tác 363-Công an quận B tuần tra đến trước nhà số B, đường G, phường B, quận B thì nhìn thấy Võ Mậu T đang điều khiển xe môtô biển số 92E1-690.75 chạy trên đường có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ từ trong túi áo khoác bên trái của T 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và khi đó, T cho biết là ma túy loại “hàng đá” của T nên Tổ công tác đưa T cùng với vật chứng đến Công an phường B xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, T đã khai nhận: do nghiện ma túy nên vào khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, T đến khu vực đường G, phường B, quận B mua gói ma túy trên của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng rồi khi đang trên đường mang về để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Theo kết luận giám định, gói nylon chứa tinh thể không màu của T “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2007g, loại Methamphetamine”.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Mậu T đã khai nhận: do nghiện ma túy nên vừa mới đến khu vực đường G, phường B, quận B mua 01 gói ma túy loại “hàng đá” của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng rồi khi đang trên đường điều khiển xe môtô biển số 92E1-690.75 chạy mang về để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, không có ý kiến gì về khối lượng ma túy đã giám định và việc giải quyết vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 86/CT-VKS, ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Mậu T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: Bị cáo Võ Mậu T đã có hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2007g, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy và đồng thời đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý là phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” nên cần xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển số 92E1-69075, giao trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Redmi và tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã giám định.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Võ Mậu T tại phiên tòa hôm nay cho thấy: vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 26/10/2023, tại trước nhà số B, đường G, phường B, quận B. Bị cáo đã có hành vi cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 12013/KL-KTHS, ngày 03/11/2023 của Phòng K-Công an Thành phố H: “Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Võ Mậu T (đương sự), Võ Vũ T1 (Điều tra viên), Bùi Nguyễn Thanh P (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B, quận B” được kết luận “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2007g, loại Methamphetamine”. Do đó, bị cáo Võ Mậu T đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định khối lượng ma túy...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau.
[4] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những mang tính chất liều lĩnh, xem thường pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Đồng thời, bị cáo đã 01 lần bị kết án, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này còn phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 xe môtô biển số 92E1-69075 của bị cáo khai: xe do mượn của anh Phạm Văn P1; còn theo kết quả giám định và xác minh, xe có số máy và số khung nguyên thủy; biển số xe 92E1-69075 là xe của anh Nguyễn Văn V đứng tên sở hữu và hiện anh V đã bỏ địa phương đi đâu không rõ; số máy và số khung xe là của xe hiệu Honda, loại VISION do Phạm Văn P1 đứng tên sở hữu và hiện anh P1 đã bỏ địa phương đi đâu không rõ; Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu thực tế của xe nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến để giải quyết. Như vậy, xét do chiếc xe này không có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số thuê bao 0795595920 là của bị cáo và do không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần giao trả lại cho bị cáo. Riêng 01 gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định; bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Mậu T (Người bị bắt), Võ Vũ T1 (Điều tra viên), Bùi Nguyễn Thanh P (Người chứng kiến) và hình dấu C1, B là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Bị cáo Võ Mậu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Võ Mậu T 02 (hai) năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 26-10-2023.
2. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển số 92E1-69075.
- Giao trả cho bị cáo Võ Mậu T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số thuê bao 0795595920.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có ma túy đã giám định; bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Mậu T (Người bị bắt), Võ Vũ T1 (Điều tra viên), Bùi Nguyễn Thanh P (Người chứng kiến) và hình dấu C1, B.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/131TV, ngày 04/4/2024)
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Võ Mậu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo Võ Mậu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |
5
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Mậu T “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”
