TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HS-ST
Ngày 30 tháng 10 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Tuyền và ông Nguyễn Văn Thanh.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Diệp Thị Lan H, sinh ngày 10-10-1984, tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: số A, tổ dân phố A, khu phố E, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: hẻm A N, khu phố B, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Diệp Quốc H1 và bà Lê Thị Á; có chồng là Lê Công S và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07-9-2024 đến ngày 04-10-2024, hiện đang tại ngoại; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ A, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Hữu T, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H3, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng: Lê Thị Á, sinh năm 1960 (vắng mặt); Diệp Quốc H1, sinh năm 1958 (vắng mặt); Hồ Thanh T1, sinh năm 1981 (vắng mặt); Trần Văn T2, sinh năm 1983 (vắng mặt); Lê Công S, sinh năm 1977 (vắng mặt); Đặng Thanh N, sinh năm 1983 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2019, Diệp Thị Lan H cùng chồng Lê Công S từ thành phố Hồ Chí Minh đến khu dân cư N thuộc xã M, huyện C, tỉnh An Giang thuê nhà trọ ở và tìm việc làm. Đến khoảng đầu tháng 9-2019, được người quen giới thiệu H nhiều lần hỏi vay tiền và thuê xe mô tô của Đặng Thanh N để sử dụng nên cả hai quen biết nhau. Lúc này, N giới thiệu H cho Nguyễn Thị Kim H2 (là bạn học cũ của N) biết để sau này H2 đi thu tiền thuê xe và tiền cho vay từ H. Khoảng 11 giờ ngày 30-9-2019, H2 đến nhà N chơi thì gặp H cũng đang có mặt tại đây. Sau một lúc ngồi nói chuyện, H hỏi mượn xe mô tô biển số 67E1-060.94 của H2 đi công chuyện. Thấy H chỉ là người mới quen biết, lúc đầu H2 không đồng ý cho mượn nhưng N đứng ra bảo lãnh nên H2 đồng ý cho H mượn xe mô tô. Sau khi được H2 cho mượn xe, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của H2 nên đem xe đến tiệm cầm đồ “Na Na” của ông Huỳnh Hữu T tại tổ A, khóm C, phường C, thành phố C cầm với số tiền 11.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Ngày 19-10-2019, H nhắn tin cho ông N biết là xe mô tô H đã chiếm đoạt của H2, H đem cầm tại tiệm cầm đồ của ông T. Sau đó, H2 đến Công an phường C trình báo sự việc. Ngày 07-9-2024, sau khi hay tin Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C truy tìm H nên H đến Công an phường A thuộc thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nơi vợ chồng H đang thuê trọ) đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 395/KL-ĐG ngày 18-11-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự C ghi nhận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ - đen - bạc, biển số 67E1-060.94 đã qua sử dụng trị giá 13.000.000 đồng.
Tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ - đen - bạc, biển số 67E1-060.94 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Kim H2.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim H2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Huỳnh Hữu T đã nhận số tiền 11.000.000 đồng do gia đình bị cáo H bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Diệp Thị Lan H khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H4 Tại Cáo trạng số: 93/CT-VKSCĐ ngày 01-10-2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Diệp Thị Lan H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Diệp Thị Lan H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Thừa nhận lợi dụng sự quen biết và giới thiệu của N nên mượn được xe của H5 của H2 và đã mang đi cầm để lấy tiền tiêu xài cá nhân và lo cho gia đình.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Diệp Thị Lan H từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Diệp Thị Lan H không bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để lo cho gia đình và con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 30-9-2019 tại nhà của Đặng Thanh N thuộc tổ F, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang, sau khi được H2 cho mượn xe mô tô biển số 67E1-060.94, bị cáo H đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe mô tô của H2 đem đến tiệm cầm đồ “Na Na” của ông Huỳnh Hữu T thuộc tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang cầm với số tiền 11.000.000 đồng. Kết luận định giá tài sản xác định xe mô tô biển số 67E1-060.94 trị giá 13.000.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Diệp Thị Lan H đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo hiện đang mang thai; bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, hiện đang có thai và nuôi con nhỏ, có nhiều tình tiết giảm trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật, quy định của địa phương, không phạm tội hoặc vi phạm nào khác. Điều này thể hiện bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo được cải tạo, chấp hành án dưới sự giám sát, giáo dục tại địa phương là điều kiện để bị cáo tiếp tục lao động tạo thu nhập, chăm sóc gia đình, người thân và là cơ hội để bị cáo tự tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật và cũng phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, không gây nguy hiểm cho xã hội và cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn đinh, hiện đang mang thai nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Kim H2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Huỳnh Hữu T đã nhận số tiền 11.000.000 đồng do gia đình bị cáo H bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển số 67E1-060.94 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe đã được trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Kim H2 nên không đặt ra xem xét tiếp.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Diệp Thị Lan H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; xử phạt Diệp Thị Lan H 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo Diệp Thị Lan H là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Diệp Thị Lan H cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Diệp Thị Lan H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Diệp Thị Lan Hương - LDTNCĐTS
