Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 12/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Nam Tiến – Gíam đốc Trung tâm VHTT-TTTH huyện Tuy Phong
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Lam – Giáo viên hưu trí

- Thư ký phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký tòa án huyện Tuy Phong

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/HSST, ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn H; giới tính: Nam; Sinh ngày 28/02/1998 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú và C ở: khu phố S, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12.

Tiền án: 03

  • Ngày 12/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Buộc phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 năm 09 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2019. (chưa xóa án tích);
  • Ngày 12/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2021. (chưa xóa án tích);
  • Ngày 16/6/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2024. (chưa xóa án tích)

Tiền sự: không

* Hoạt động nhân thân của bị cáo:

  • Ngày 01/11/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường G, chấp hành xong ngày 30/8/2015;
  • Ngày 09/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 06 tháng 03 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” và trả tự do tại phiên tòa (đã được xóa án tích).

Cha: không rõ; Mẹ: Lê Thị C1, sinh năm 1970, hiện ở: khu phố S, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; A, chị, em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; Vợ, con: chưa có.

Bị cáo Lê Văn H bị bắt để tạm giam từ ngày 06/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T.

  1. Họ và tên: Nguyễn Thành T; giới tính: Nam; Sinh ngày 01/10/2001 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú và C ở: khu phố S, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12.

Tiền án: không

Tiền sự: 01 - Ngày 08/4/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong ra Quyết định số 45/QĐ-TA áp dụng biện pháp xủ lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn xử phạt 12 tháng (chư chấp hành)

Cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977; Mẹ: Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1979, hiện ở: khu phố S, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; A, chị, em ruột: có 01 người, sinh năm 2000; Vợ, con: chưa có.

Bị cáo Nguyễn Thành T bị bắt để tạm giam từ ngày 06/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T. Có mặt

Người bị hại: Nguyễn Lê Anh T2, sinh năm 2007 do bà Lê Thị M, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám hộ; Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; Địa chỉ: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám hộ; Vắng mặt

- Người làm chứng: Phạm Thị Kim V, sinh năm 2007; Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/5/2024 Nguyễn Thành T, sinh năm 2001, trú tại: khu phố S, thị trấn P, huyện T điều khiển xe mô tô biển số 53V3-3822 đến nhà Lê Văn H, sinh năm 1998, trú tại: khu phố S, thị trấn P, huyện T. Tại đây T và H bàn bạc với nhau đi cướp tài sản tại khu vực chùa M1 thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện T (vì đây là nơi vắng người qua lại nhưng thường xuyên có nhiều cặp nam nữ ngồi chơi). H mang theo 01 cây dao thái lan (dài khoảng 20 cm, có cán nhựa màu vàng, lưỡi sắc bằng kim loại), T điều khiển xe mô tô biển số 53V3-3822 chở H mang theo con dao chạy trên tuyến đường DT716 qua khu vực chùa M1 thì phát hiện Nguyễn Lê Anh T2, sinh năm 2007, trú tại: khu phố M, thị trấn P, huyện T ngồi với Phạm Thị Kim V, sinh năm 2007, trú tại: khu phố P, thị trấn P, huyện T tại lề đường (hướng P đi P). T điều khiển xe chở H đi đến vị trí của T2 và V rồi xuống xe đi lại gần phía sau T2 và V (khi này T2 và V vẫn ngồi mặt hướng về biển). Khi đến gần H nói xin thuốc thì T2 nói không có. Hiển từ phía sau tay trái nắm cổ áo, tay phải cầm dao thái lan kê phía bên hông của T2 và nói “Có tiền hay điện thoại đưa tao” thì T2 đưa cho H 01 điện thoại hiệu Iphone 8 Plus màu đen và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. T thấy chìa khóa xe của T2 đang cắm trên xe (xe T2 dựng gần đó) nên đi lại rút và cầm theo chìa khóa mục đích để T2 không điều khiển xe đuổi theo, rồi T điều khiển xe mô tô biển số 53V3-3822 chở H chạy về hướng Phan Rí C2. Trên đường bỏ chạy T đưa chìa khóa xe của T2 cho H, thấy có ánh đèn xe từ phía sau, lo sợ có người rượt đuổi nên H vứt cây dao thái lan và chìa khóa xe của T2 vào bụi cây. Sau đó T chở H bỏ chạy về nhà H, đến trưa ngày 04/5/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 53V3-3822 chở H đến khu vực xóm C, thị trấn Phan Rí C2 bán chiếc điện thoại hiệu Iphone 8 Plus màu đen cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977, trú tại: khu phố M, thị trấn P, huyện T với giá 400.000 đồng, khi bán H nói điện thoại là của H nên bà N đồng ý mua. Số tiền bán điện thoại và 50.000 đồng Tâm và H đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng hết. Qua làm việc Nguyễn Thành T và Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo kết luận định giá số 27/KL-HĐĐG ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen trị giá 3.199.000 đồng/cái × 1 × 80% = 2.559.200 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Thành T đã cướp được là 2.609.200 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 101/CT-VKSTP-HS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp dụng: điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H mức án từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 06/5/2024).

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T mức án từ 07 (bảy) đến 08 (tám) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 06/5/2024).

Về tang vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả điện thoại cho Nguyễn Lê Anh T2 theo Quyết định xử lý vật chứng số 1107/QĐ-CQCSĐT ngày 28/7/2024, T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • Ngày 06/5/2024, bị cáo Nguyễn Thành T giao nộp chiếc xe mô tô Dream màu đen biển kiểm soát 53V3-3822 phục vụ điều tra. Ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có Quyết định xử lý vật chứng số 1355/QĐ- CQĐT giao chiếc xe mô tô Dream màu đen biển kiểm soát 53V3-3822 cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện T để xác minh, xử lý đối với xe chưa rõ chủ sở hữu theo quy định.
  • Đối với con dao thái lan bị cáo H dùng để gây án sau đó bị cáo đã ném bỏ nên không thu hồi được.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa và đồng ý quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo H và T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 101/CT-VKSTP-HS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Các bị cáo khẳng định những lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, các bị cáo không bị bức cung và cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án: “Cướp tài sản”, xảy ra vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/5/2024 tại khu phố P, thị trấn P, huyện T do bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Thành T cùng thống nhất ý trí dùng dao thái lan cướp của Nguyễn Lê Anh T2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen trị giá 2.559.200 đồng và số tiền 50.000 đồng. Sau đó, bị cáo H và T bán điện thoại di động cho bà Nguyễn Thị N được 400.000 đồng, số tiền này cùng với 50.000 đồng đã cướp được bị cáo H và T mua ma túy sử dụng và tiêu xài cho cá nhân hết.

Vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, bị cáo H và bị cáo T đều cùng thống nhất ý chí dùng dao thái lan là hung khí nguy hiểm để cướp điện thoại và tiền của T2 nên đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản có tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo Lê Văn H đã có 03 tiền án chưa được xoá án tích nay tiếp tục phạm tội là tinh tiết định khung hình phạt thuộc trường hợp “tái phạm nuy hiểm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên các bị cáo phải chịu xử lý trách nhiệm nhiệm hình sự chung đối với toàn bộ hành vi và hậu quả xảy ra.

Vì vậy, Cáo trạng số 101/CT-VKSTP-HS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo H phạm vào tội: “Cướp tài sản” quy định điểm d, h tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo T phạm vào tội: “Cướp tài sản” quy định điểm d tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận biết được hành vi cướp tài sản của người khác là hành động rất nguy hiểm bị nghiêm cấm, vì bản tính tham lam, lười lao động muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân nên cả hai bị cáo đã lợi dụng sự yếu thế của người khác, đã dao uy hiếm tinh thần làm cho bị hại sợ và giao tài sản cho các bị cáo, sau khi chiếm đoạt tài sản bán để lấy tiền tiêu xài và sử dụng cho mục đích khác của cá nhân. Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo đã xâm phạm tài sản hợp pháp và sức khoẻ của người khác, gây bức xúc trong nội bộ quần chúng nhân dân và làm mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý các bị cáo thật nghiêm minh, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa tội phạm chung, vì vậy cần phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Thành T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo H và T đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cũng xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo 01 phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị N khi mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen do bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Thành T đem đến bán, bà N không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là phù hợp.

[5] Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên ghi nhận để xem xét.

[6] Về tang, vật chứng của vụ án:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả điện thoại cho Nguyễn Lê Anh T2 theo Quyết định xử lý vật chứng số 1107/QĐ-CQCSĐT ngày 28/7/2024, T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
  • Ngày 06/5/2024, bị cáo Nguyễn Thành T giao nộp chiếc xe mô tô Dream màu đen biển kiểm soát 53V3-3822 phục vụ điều tra. Ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có Quyết định xử lý vật chứng số 1355/QĐ- CQĐT giao chiếc xe mô tô Dream màu đen biển kiểm soát 53V3-3822 cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện T để xác minh, xử lý đối với xe chưa rõ chủ sở hữu theo quy định.
  • Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu các bị cáo bồi thường tiền do mua nhầm điện thoại nên không xem xét.
  • Đối với con dao thái lan bị cáo H dùng để gây án sau đó bị cáo đã ném bỏ nên không thu hồi được nên không xem xét xử lý.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H và bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội: “Cướp tài sản”

Áp dụng: điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 06/5/2024)

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 06/5/2024)

[2]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H và bị cáo T mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo, báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an huyện Tuy Phong;
  • - Bị cáo,
  • - Người bị hại; người liên quan;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận về hình sự - cướp tài sản

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo H 08 năm tù, bị cáo T 07 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger