TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/DS-ST Ngày: 03/6/2025 V/v: “Tranh chấp đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Phước Tân;
- Bà Lâm Thị Ngọc Giàu.
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà M – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú mở phiên toà xét sử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST – DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định xét xử số: 42/2025/QÐST - DS ngày 07/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2025/QÐST-DS ngày 26/02/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 143/2025/QÐST-DS ngày 26/3/2025 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 637/2025/TB-TA ngày 15/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị Đ, sinh năm 1953, cư trú: Tổ G, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Hùng Duy K, sinh năm 1995, cư trú: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 29/01/2024 tại Văn phòng C – Có mặt.
Đồng bị đơn: Ông Hà Phi V, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1979; cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ 999, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
1
Người đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn là ông Lý Hồng P, sinh năm 1965, cư trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 06/3/2024 của văn phòng C – Có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Quách Thị T, sinh năm 1965 – Vắng mặt có đơn.
- Bà Quách Thị H1, sinh năm 1964 – Vắng mặt có đơn.
Cư trú: tổ G, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang
- Ông Lê Bình K1 (Sáu P1), sinh năm 1953, cư trú: số B, tổ H, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Ngọc G, sinh năm: 1966, cư trú: tổ A, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
- Bà Đặng Thị L, sinh năm 1948, cư trú: tổ G, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị A (Vợ 10 Diễn), sinh năm 1967, cư trú: Khu dân cư Ấ, xã K, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Bích L1, cư trú: ấp Đ, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn và đại diện theo yêu cầu của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2014, xuất phát từ mối quan hệ họ hàng, bà Đ có tham gia hụi do ông V – bà H làm chủ và cho ông V – bà H vay tài sản, cụ thể:
1. Hợp đồng góp hụi:
- Dây hụi thứ nhất: Hụi tháng 5.000.000₫ mỗi tháng 01 lần, huê hồng đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000đ, mở ngày 15/5/2014 âm lịch (nhằm ngày 12/6/2014 dương lịch), gồm 25 phần, thỏa thuận trong thời gian 06 ngày sau khi khui hụi, phải giao tiền hốt hụi, bà Đ tham gia 02 phần, tên trong hụi là “Mợ Năm”. Vào lần khui thứ 22 và 23, do thời gian đã lâu nên bà Đ không nhớ đã bỏ thăm bao nhiêu tiền hốt được, khấu trừ tiền huê hồng 5.000.000đ thì ông V – bà H phải giao tổng số tiền là 225.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông V – bà H không giao đúng hạn và nợ đến nay.
- Dây hui thứ hai: Hụi tháng 5.000.000đ, mỗi tháng 01 lần, huê hồng đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000đ, mở ngày 25/10/2015 âm lịch (nhằm ngày 06/12/2015 dương lịch), gồm 22 phần, thỏa thuận trong thời gian 06 ngày sau khi khui hụi, phải giao tiền hốt hụi, bà Đ tham gia 02 phần, tên trong hụi là “5 Lực”. Vào lần khui thứ 11 và 22, do thời gian đã lâu nên bà Đ không nhớ đã bỏ thăm bao nhiêu tiền hốt được, khấu trừ tiền huê hồng 5.000.000đ thì ông V – bà H phải giao tổng số tiền là 195.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông V – bà H không giao đúng hạn và nợ đến nay.
Tổng cộng 02 dây hụi, vợ chồng ông V – bà H nợ bà số tiền 420.000.000₫.
2. Hợp đồng vay tài sản:
Vào năm 2016, vợ chồng ông V – bà H hỏi vay bà nhiều lần với tổng số tiền 750.000.000đ, mục đích vay là để có vốn dùng vào chăn nuôi cá và chi tiêu trong gia đình. Do có mối quan hệ họ hàng nên khi cho vợ chồng ông V – bà H vay tiền chỉ thỏa thuận bằng lời nói và thời hạn vay do bên bà Đ quyết định, không lãi suất. Cụ thể:
- Lần 1: Ngày 16/4/2016, vay 300.000.000₫.
- Lần 2: Ngày 17/5/20016, vay 250.000.000đ.
- Lần 3. Ngày 26/5/2016, vay 200.000.000đ.
Vào năm 2017, bà yêu cầu vợ chồng ông V – bà H trả nợ nhưng ông bà không thực hiện, chỉ hứa hẹn khi bán được cá hoặc bán được tài sản sẽ trả. Sau nhiều lần yêu cầu trả nợ, vợ chồng ông V – bà H đã trả được cho bà số tiền 180.000.000đ, cụ thể:
- Ngày 16/4/2017, trả được số tiền 150.000.000đ;
- Ngày 30/01/2018, trả được số tiền 30.000.000đ.
Nay, vợ chồng ông V – bà H còn nợ số tiền 570.000.000₫.
Ngày 31/5/2022, bà gọi điện yêu cầu vợ chồng ông V – bà H trả nợ nhưng ông bà cũng chỉ thừa nhận nợ và tiếp tục hứa hẹn khi nào bán được tài sản sẽ trả nợ. Đến ngày 01/6/2022, bà đến nhà yêu cầu trả nợ nhưng ông V – bà H vẫn không thực hiện.
Nhận thấy quyền lợi bị ảnh hưởng nên bà khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Hà Phi V và bà Nguyễn Thị Kim H phải cùng có trách nhiệm trả lại cho bà Đ với số tiền 990.000.000đ (Chín trăm chín mươi triệu đồng).
Đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn trình bày:
Bà Đ và ông V – bà H có quan hệ họ hàng. Ông V – bà H chung sống có thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T. Ông V – bà H hiện đang sống tại địa chỉ nhà T, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
Đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, ông V – bà H không tham gia hụi và không vay tiền của phía nguyên đơn nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Đối với các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, phía bị đơn không có ý kiến và cũng không có yêu cầu.
3
Về tài liệu chứng cứ: Các đương sự không giao nộp tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Theo yêu cầu của nguyên đơn Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ.
Đối với người làm chứng bà Nguyễn Thị Bích L1, Trần Thị Ngọc G, Nguyễn Thị A, Lê Bình K1 từ chối làm việc và không cung cấp thông tin được ghi nhận tại các Biên bản xác minh ngày 03/7/2024, 05/7/2024.
Theo Biên bản ghi nhận lời khai ngày 25/6/2024 của bà Quách Thị T cho biết: Bà và bà Đ, ông V – bà H là họ hàng. Thời gian trước bà có tham gia hụi do ông V – bà H làm chủ cùng với bà Đ các dây hụi sau:
Dây hụi thứ nhất: Hụi 5.000.000đ, khui ngày 15/5/2014, mỗi tháng khui một lần, có 25 phần, bà tham gia một phần, bà Đ tham gia một phần tên trong danh sách hụi là “Mợ Năm”. Dây hụi này bà đã hốt, nhận đủ tiền nên những lần bỏ hụi sau đó bà chỉ đưa tiền mà không tham gia khui nên không biết bà Đ hốt lần thứ chưa, số tiền cụ thể bao nhiêu.
Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ, khui ngày 25/10/2015 âm lịch, mỗi tháng khui một lần, 22 phần, đầu thảo 2.000.000đ, bà tham gia 01 phần, bà Đ 02 phần. Bà tham gia đến lần thứ 18 thì ông V – bà H tuyên bố vỡ hụi, bà và bà Đ vẫn chưa nhận được tiền đối với dây hụi này.
Đối với tiền vay giữa bà Đ và ông V – bà H thì bà không biết.
Theo Biên bản ghi nhận lời khai ngày 25/6/2024 của bà Quách Thị H1 cho biết: Bà và bà Đ, ông V – bà H là họ hàng. Thời gian trước bà có tham gia hụi do ông V – bà H làm chủ cùng với bà Đ dây hụi 5.000.000đ, khui ngày 15/5/2014 âm lịch, mỗi tháng khui một lần, đầu thảo 2.000.000đ, bà tham gia một phần, bà Đ tham gia một phần tên trong giấy hụi là “Mợ Năm”. Dây hụi này bà và bà Đ vẫn chưa hốt thì ông V – bà H tuyên bố vỡ hụi, đến nay bà chưa nhận được tiền, Giữa bà Đ và ông V – bà H thỏa thuận số tiền hụi như thế nào thì bà không biết. Riêng đối với tiền vay do là chỗ họ hàng nên bà có nghe nói nhưng không biết số tiền cụ thể bao nhiêu nên không cung cấp được.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông V – bà H tại Tờ giấy tập học sinh có chữ viết bắt đầu và kết thúc “Ngày 30/8/2017 ... Hà Phi V” và giọng nói của ông V – bà H tại 04 đoạn ghi âm đã giao nộp.
Ngày 31/7/2024, Tòa án ban hành Quyết định số 178 về việc yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu mẫu so sánh đối với 04 đoạn ghi âm yêu cầu giám định nhưng nguyên đơn không cung cấp được.
Theo yêu cầu của nguyên đơn, ngày 07/5/2025, Tòa án tiến hành thu thập giọng nói của ông V – bà H có sự chứng kiến của Ban N và Công an xã K nhưng không thực hiện được.
4
Ngày 09/9/2024, Tòa án ban hành Quyết định số 234 về việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông V - bà H. Ngày 10/01/2025, Tòa án nhận được kết luận giám định của Phòng C1 Công an tỉnh A:
- Chữ viết “Nguyễn Thị Kim H” dưới mục “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ viết “Nguyễn Thị Kim H” dưới mục “Người phải thi hành án”, “Bên A” trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M1 đến M6) do cùng một người viết ra.
- Chữ viết “Hà Phi V” dưới mục “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ viết “Hà Phi V” dưới mục “Bên A” và chữ “V” dưới mục “Đại diện” trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M6, M7) không phải do cùng một người viết ra.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Phía nguyên đơn tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng). Những nội dung khởi kiện còn lại giữ nguyên và bảo lưu ý kiến trong giai đoạn hòa giải.
Đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn trình bày:
Khẳng định, từ trước đến nay ông V – bà H không có quan hệ vay tiền và tham gia hụi như phía nguyên đơn trình bày. Từ đó, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với kết luận giám định và đoạn ghi âm, phía bị đơn đã được tiếp cận, không có ý kiến và cũng không yêu cầu gì.
Tại Biên bản hòa giải ngày 25/4/2024, ông V có mặt và tự trình bày ý kiến là không vay tiền của bà Đ mong Hội đồng xét xử xem xét lời trình bày này.
Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung:
Việc vay tiền và tham gia hụi giữa bà Đ và ông V – bà H chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập thành văn bản, việc giao nhận tiền và thanh toán được diễn ra nhiều lần tại nhà của bà Đ, ông V và bà H và không người làm chứng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, ngày 31/7/2024 Tòa án ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 178/2024/QĐ-
5
CCTLCC yêu cầu bà Đ cung cấp các tài liệu chứng cứ. Ngày 05/8/2024, nguyên đơn giao nộp tài liệu, chứng cứ và có đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết, giọng nói của ông V và bà H.
Tòa án đã tiến hành mở file ghi âm và yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu mẫu so sánh đối với 04 đoạn ghi âm yêu cầu giám định nhưng nguyên đơn không cung cấp được. Do đó, Thẩm phán không đủ điều kiện để tiến hành giám định là đúng quy định nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Đối với lời trình bày của bà Quách Thị T và Quách Thị H1, nhận thấy: Bà T và bà H1 có tham gia cùng với bà Đ các dây hụi khui ngày 15/5/2014 âm lịch và ngày 25/10/2025 âm lịch. Tuy nhiên, hai bà không cung cấp được việc bà Đ đã lãnh hụi lần khui thứ bao nhiêu và việc trả hụi diễn ra như thế nào, số tiền cụ thể nên không có đủ căn cứ giải quyết vụ án. Bà Đ không cung cấp được chứng cứ nào khác cho yêu cầu khởi kiện.
Ngày 09/9/2024, Tòa án ban hành Quyết định số 234 về việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông V- bà H. Ngày 10/01/2025, qua kết luận giám định của Phòng C1 Công an tỉnh A:
- Chữ viết “Nguyễn Thị Kim H” dưới mục “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ viết “Nguyễn Thị Kim H” dưới mục “Người phải thi hành án”, “Bên A” trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M1 đến M6) do cùng một người viết ra.
- Chữ viết “Hà Phi V” dưới mục “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ viết “Hà Phi V” dưới mục “Bên A” và chữ “V” dưới mục “Đại diện” trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M6, M7) không phải do cùng một người viết ra.
Tại Biên bản ghi nhận lời khai của đương sự ngày 07/5/2025, tuy bà H không ký tên vào Biên bản nhưng dưới sự chứng kiến của Ban N và Công an xã K, Tòa án cho bà H xem Tờ giấy tập học sinh có nội dung “Ngày 30/8/2017 tôi tên Nguyễn Thị Kim Hoa Hà Phi V có hứa trả cho mợ 5 là hai trăm triệu đây tới Tết ...”, bà H xác định đây là chữ viết của bà, chữ ký là của bà và ông V.
Ngày 16/4/2025, Tòa án đã tiến hành mở file ghi âm có mặt của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn nhưng không ai có ý kiến. Mặt khác, ông V – bà H không thừa nhận nợ nhưng khi Tòa án triệu tập công khai các đoạn ghi âm, triệu tập đối chất nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án và đến tận nhà làm việc nhưng ông bà, từ chối nhận văn bản, có thái độ không hợp tác, không ký tên vào biên bản làm việc; phía bị đơn cũng không yêu cầu giám định các đoạn ghi âm do nguyên đơn cung cấp.
Do đó, nhận thấy nguyên đơn đã thực hiện hết nghĩa vụ chứng minh trong vụ án, căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92 và khoản 1 Điều 103 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Hội đồng xét xử xác định Tờ giấy tập học sinh có nội dung “Ngày 30/8/2017 tôi tên Nguyễn Thị Kim Hoa Hà Phi V có hứa trả cho mợ 5 là hai trăm triệu đây tới Tết ...” và 04 đoạn ghi âm do nguyên đơn cung cấp là chứng cứ được quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo nội dung các đoạn ghi âm do nguyên đơn cung cấp bà Đ nói: “Nè hai trăm rưỡi triệu cũ nè, còn bảy trăm triệu mày đi xuống lấy tao đưa mày lần 200, lần 300 á mày tính đi.”, “Phần dì tư hỏi bảy trăm triệu, còn bên mợ là hai trăm rưỡi với hai trăm với ba trăm là bảy trăm rưỡi”, “Tao với dì tư mày hỏi bảy trăm riêng, còn phần của tao bên này nè phần hai trăm rưỡi, phần hai trăm với phần ba trăm...” và xác định “Tiền đó là bên tiền hụi tiền lời gì đó”, “Chứ bên tiền hụi là còn y thinh hà” nhưng phía ông V và bà H không phản đối, đồng thời nhiều lần thể hiện nội dung ông bà hứa bán đất, cất bè cá sẽ trả dần tiền nợ cho bà Đ.
Sự không trung thực của ông V và bà H còn thể hiện tại lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông bà. Ông P cho rằng: Từ trước đến nay, bà H - ông V không vay tiền, tham gia chơi hụi với bà Đ nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện, ông cũng không xác định được ông V – bà H có nuôi cá tại địa phương là mâu thuẫn với kết quả xác minh của Tòa án tại địa phương và không thống nhất với chính lời trình bày của bà H tại Biên bản ngày 07/5/2025, thể hiện có nợ đã thanh toán hết cho bà Đ nay không còn nợ nhưng ông V – bà H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh theo Quyết định yêu cầu cung cấp chứng của Tòa án đối với lời trình bày này.
Căn cứ lời trình bày của ông Lý Hồng P tại Biên bản hòa giải ngày 20/3/2025: “Ông V – bà H chung sống có thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T”; ông V và bà H hiện chung sống tại ấp T, xã K, không có thời gian ly thân nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình buộc ông V và bà H phải cùng chịu trách nhiệm.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định thời điểm ông V – bà H viết Biên nhận nợ trước thời điểm đoạn ghi âm. Sau khi viết Biên nhận, vào ngày 30/01/2018, ông V – bà H trả được số tiền 30.000.000đ và ngưng cho đến nay. Đồng thời, nguyên đơn xác định bị đơn còn nợ số tiền vay 570 triệu đồng, không yêu cầu xem xét lãi suất là có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Hà Phi V – bà Nguyễn Thị Kim H phải thanh toán số tiền 570 triệu đồng.
10
[5] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí.
Ông V và bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và hoàn trả chi phí tố tụng cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 271, 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ về việc buộc ông Hà Phi V – bà Nguyễn Thị Kim H phải thanh toán số tiền 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Đ.
Buộc ông Hà Phi V - bà Nguyễn Thị Kim H phải thanh toán cho bà Hà Thị Đ số tiền 570.000.000 đồng (Năm trăm bảy mươi đồng).
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và bà Đ có đơn yêu cầu thi hành án, ông V - bà H không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Hà Phi V - bà Nguyễn Thị Kim H có nghĩa vụ hoàn trả chi phí tố tụng với số tiền 5.000.000đ theo Phiếu thanh toán bồi dưỡng giám định ngày 18/02/2025 của Phòng C1 tỉnh An Giang và Biên nhận tạm ứng chi phí giám định ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
4. Về án phí: Ông Hà Phi V - bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 26.800.000₫ (Hai mươi sáu triệu tám trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
11
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/6/2025); các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.).
12
Bản án số 114/2024/DS-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 114/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đ yêu cầu ông V - bà H trả tiền vay
