Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/DS- PT

Ngày: 29/5/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang, ông Nguyễn Việt Hùng

-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh– Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 29/5/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2024/TLPT- DS ngày 06/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 107/2024/QĐ-PT ngày 11/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2024/QĐ-PT ngày 26/4/2024 giữa:

Nguyên đơn: Anh Vũ Thành T, sinh năm 1977 (có mặt )

Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của anh Vũ Thành T: Công ty L, địa chỉ: Số C, khu A, phường C, quận L, thành phố Hà Nội (Hợp đồng ủy quyền số 10/2023 ngày 07/7/2023)

Đại diện theo pháp luật: Luật sư Nguyễn Quang D, chức danh Giám đốc (có mặt).

Bị đơn: Anh Trương Văn Q, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Chị Vũ Thị H, sinh năm 1978 (vắng mặt )

Cùng cư trú: Thôn H, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của Trương Văn Q, chị Vũ Thị H:

Anh Phạm Văn P, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang( văn bản ủy quyền ngày 06/11/2023 – vắng mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Trương Văn Q, chị Vũ Thị H:

Ông Dương Văn Q1- Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh B (đề nghị xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị K:Công ty L, địa chỉ: Số C, khu A, phường C, quận L, thành phố Hà Nội (Hợp đồng ủy quyền số 10/2023 ngày 07/7/2023)

Đại diện theo pháp luật: Luật sư Nguyễn Quang D, chức danh Giám đốc (có mặt ).

* Người kháng cáo: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1978, là bị đơn (đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn,người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 24/01/2022, vợ chồng anh Trương Văn Q, chị Vũ Thị H vay anh T 1.171.200.000 đồng, có viết giấy biên nhận vay tiền, anh Q và chị H đều ký nhận, mục đích vay để chăn nuôi, thời hạn vay 03 tháng, không thỏa thuận lãi suất. Tháng 10/2022 anh Q, chị H đã trả anh T 83.000.000đồng, số tiền còn nợ là 1.088.000.000 đồng anh T nhiều lần yêu cầu trả nhưng anh Q, chị H không trả thêm đồng nào.

Nay anh T yêu cầu anh Q, chị H trả 1.088.000.000 đồng ( Một tỷ tám mươi tám triệu đồng) tiền vay gốc theo Giấy biên nhận tiền ngày 24/01/2022, không yêu cầu tiền lãi. Trường hợp anh Q, chị H không đồng ý trả 1.088.000.000đồng tiền gốc thì anh T yêu cầu trả cả tiền gốc 1.088.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền 1.088.000.000 đồng theo mức lãi suất ngân hàng là 10%/ năm (0,83%/ tháng) tính từ ngày 25/4/2022 đến ngày 25/12/2023. Số tiền trên là tiền riêng của anh T, không phải tài sản của chị Nguyễn Thị K.

Tại Giấy vay tiền ngày 24/01/2022 có ghi tài sản thế chấp là nhà và đất ở nhưng thực tế anh T và anh Q, chị H không thế chấp tài sản gì, không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào.

Bị đơn là chị Vũ Thị H và anh Trương Văn Q trình bày tại biên bản hòa giải ngày 06/11/2023: Anh Q và chị H đăng ký kết hôn năm 1997 tại UBND xã V, huyện L và chung sống với nhau đến nay. Ngày 24/01/2022 anh Q, chị H và anh Vũ Thành T viết giấy biên nhận vay tiền, nội dung anh Q, chị H vay anh Vũ Thành T 1.171.200.000 đồng ( Một tỷ một trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng), thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày vay, mục đích vay để chăn nuôi, anh Q chị H ký nhận và điểm chỉ vào Giấy biên nhận vay tiền. Nguồn gốc số tiền trên là tiền do anh T bán cám cho vợ chồng anh Q,chị H chăn nuôi từ năm 2010 đến nay. Đến ngày 24/01/2022 thì chốt nợ tổng số tiền nợ cám là 1.171.200.000 đồng (Một tỷ một trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng ). Tháng 10/ 2022 anh Q, chị H đã trả anh T 83.000.000đồng. Nay anh T yêu cầu anh Q, chị H trả tính tròn là 1.088.000.000 đồng thì anh Q, chị H đồng ý trả. Số tiền nợ trên là nợ chung của vợ chồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H và đại diện theo ủy quyền của anh Q là anh Phạm Văn P trình bày: Số tiền 1.171.200.000 đồng ghi tại Giấy biên nhận vay tiền ngày 24/01/2022 là tiền anh T bán cám cho anh Q, chị H mua để chăn nuôi tính gộp từ năm 2010 ngày 24/01/2022 nhưng chưa trả được. Do vậy anh Tâm tính cả tiền lãi 2%/ tháng trên số tiền anh Q, chị H mua cám chưa trả được như tại giấy vay tiền ngày 22/12/2011 âm lịch. Ngày 24/01/2022 anh Q, chị H và anh V Thành Tâm tính tổng cộng cả tiền gốc và tiền lãi còn lại và viết giấy biên nhận vay tiền, nội dung anh Q, chị H vay anh Vũ Thành T 1.171.200.000 đồng như trên. Nay anh T yêu cầu anh Q, chị H trả 1.088.000.000 đồng tiền vay gốc theo Giấy biên nhận tiền ngày 24/01/2022 thì chị H, anh Q không đồng ý trả vì số tiền trên là gồm cả tiền gốc và lãi suất; nhưng cụ thể tiền gốc và tiền lãi bạo nhiêu thì anh Q,chị H không nhớ. Tại phiên tòa, chị H và đại diện theo ủy quyền của anh Q không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì.

Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã quyết định:

Căn cứ các Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470, Điều 288 Bộ luật Dân sự; các Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Trương Văn Q,chị Vũ Thị H phải liên đới có nghĩa vụ trả anh Vũ Thành T 1.088.000.000 đồng tiền gốc + 180.608.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 1.268.608.000đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/01/2024 chị Vũ Thị H nộp đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam do bản án chưa xem xét khách quan, toàn diện các tình tiết trong vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với nội dung kháng cáo, ý kiến quan điểm của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của chị Vũ Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Lục Nam.

+ Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của chị Vũ Thi H làm trong thời hạn, theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên là đơn kháng cáo hợp lệ. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt tai phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Xét nội dung kháng cáo của chị Vũ Thị H:

[3.1] Theo nội dung tại “Giấy biên nhận vay nhận tiền” ngày 24/01/2022 thì vợ chồng anh Trương Văn Q, chị Vũ Thị H vay anh Vũ Thành T số tiền 1.171.200.000 đồng. Chị H, đại diện theo ủy quyền của anh Q cho rằng số tiền 1.171.200.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền ngày 24/01/2022 là tiền anh T bán cám cho anh Q, chị H mua chăn nuôi tính gộp từ năm 2010 và tiền lãi 2%/ tháng trên số tiền anh Q, chị H mua cám chưa trả được nhưng chị H và đại diện theo ủy quyền của anh Q không biết cụ thể tiền mua cám là bao nhiêu và tiền lãi bao nhiêu, cũng không có tài liệu, chứng cứ gì để cung cấp chứng minh ngoài lời trình bày. Qúa trình tham gia tố tụng chị H, anh Q xác nhận chữ ký, chữ viết trong giấy biên nhận vay tiền ngày 24/01/2022 do chị H, anh Q viết và điểm chỉ. Chị H, anh Q trình bày bị ép buộc ký vào giấy biên nhận vay tiền nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do vậy, không có căn cứ xác định số tiền 1.171.200.000 đồng là tiền anh T bán cám cho anh Q, chị H tính gộp từ năm 2010 và tiền lãi 2%/ tháng như anh Q chị H trình bày.

[3.2] Theo nội dung tại Giấy vay nhận tiền ngày 24/01/2022 thì vợ chồng anh Trương Văn Q, chị Vũ Thị H vay anh Vũ Thành T số tiền 1.171.200.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày vay (24/01/2024), mục đích vay để chăn nuôi, không ghi thỏa thuận về lãi suất. Căn cứ khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự xác định đây là Hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi.

[3.3] Theo tài liệu thu thập được thể hiện đến thời hạn trả nợ nhưng chị H, anh Q không trả khoản tiền vay là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận trong giấy vay tiền. Do vậy, anh T khởi kiện buộc anh Q chị H trả khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền từ 24/4/2022 đến ngày 25/12/2023, mức lãi suất là 10%/năm là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

[3.4] Từ những căn cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bản án sơ thẩm căn cứ Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 470 xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh Q, chị H phải liên đới có nghĩa vụ trả anh T 1.088.000.000 đồng tiền gốc + 180.608.000 đồng tiền lãi suất, tổng cộng 1.268.608.000 đồng là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn, người đại

diện theo ủy quyền của bị đơn không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác. Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị Vũ Thị H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Vũ Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Vũ Thị H đã nộp theo Biên lai số 0008065 ngày 23/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Toà án nhân dân huyện Lục Nam;
  • -Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/DS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 114/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa a T và a Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger