Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HS-ST

Ngày: 14 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Thắng;

Ông Phùng Hải Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử số 2, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn M, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1989, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố D, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm: 1954 và bà Trần Thị D, sinh năm: 1959; hiện trú tại: Khu phố D, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; gia đình có hai người con, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Bùi Thị Thanh Thúy V, sinh năm: 1991 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/8/2023, bị Công an thành phố Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 213/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, với mức phạt 3.500.000 đồng. Bị cáo đã thi hành.

Bị cáo Trần Văn M bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2023. Có mặt.

2. Lê Quang L, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1983, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang P, sinh năm: 1955 và bà Hoàng Thị S, sinh năm: 1955; hiện trú tại: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; gia đình có ba người con, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 21/6/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản”.
  • - Ngày 22/5/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đ) xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • - Ngày 06/11/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Ngày 13/3/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Lê Quang L bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2023. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quang P, sinh năm: 1955; trú tại: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quang L và Trần Văn M là những đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 29/06/2023, L (dùng điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, số điện thoại 0905.882.xxx) và M (dùng điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, số điện thoại 0946.283.xxx) gọi đến số điện thoại 0779.525.xxx của Lê Phước H1 (Tên gọi khác: D1, sinh năm: 1986, trú tại: số 1 đường H, thuộc Khu phố B, Phường A, thành phố Đ) hỏi mua ma túy H, H1 đồng ý bán với giá 180.000 đồng/1 tép và hẹn L, M đến trước khu vực cổng Chợ đêm (thuộc Phường B, thành phố Đ) để giao.

L điều khiển xe mô tô Honda Airblade, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát: 74C1 - 425.45 (thuộc sở hữu của ông Lê Quang P, sinh năm 1955; trú tại: Khu phố A, phường E, thành phố Đ - bố của L) đi đến điểm hẹn thì gặp M đi xe thồ đến. Sau khi biết L cũng đang đợi H1 để mua ma túy nên M rủ L góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng vì mua lẻ giá 180.000 đồng/01 tép còn mua 03 tép trở lên thì giá chỉ 120.000 đồng/01 tép, L đồng ý.

Khoảng 05 phút sau, H1 gọi cho M, nói M đến trước khu vực Chợ Đông H2 chở H1 về nhà của H1 để lấy ma túy. Vì không có xe nên M nói L chở M đến đón H1 rồi cả 03 người cùng di chuyển về nhà của H1. Trước cổng nhà H1, L đưa cho M 180.000 đồng, M góp thêm 180.000 đồng rồi M đi vào nhà gặp H1 mua được 03 tép ma túy Heroine với giá 360.000 đồng (số ma túy được gói trong 03 gói giấy màu trắng, bên ngoài được quấn bởi băng keo màu đen). Sau khi có ma túy, M cất giấu ở tay trái rồi quay ra xe gặp L cùng nhau đi tìm địa điểm sử dụng. Khi đi đến trước số nhà G đường B (thuộc khu phố T, Phường A, thành phố Đ) thì bị Tổ Công tác Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Nhiều cục, hạt, bột màu trắng.
  • - 03 (ba) mảnh giấy màu trắng, loại giấy vở, trên mỗi mảnh giấy đều dính một mảnh băng keo màu đen.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 74C1-425.45, số máy: JF63E-2462316, số khung: RLHJF631XKZ011578, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số imei: 353299071603584, gắn sim có số thuê bao 0946283567, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, số imei 1: 355228088663685, số imei 2: 355229088663683, gắn sim có số thuê bao 0905882777, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 652/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn màu trắng dạng hạt, cục, bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định là ma tuý loại Heroin, có khối lượng 0,3075 gam.

Heroin là chất ma tuý nằm trong danh mục IA, STT 29 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Cáo trạng số 103/CT-VKS-ĐH ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần Văn M và Lê Quang L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn M và Lê Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn M từ 13 tháng tù đến 15 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Quang L từ 13 tháng tù đến 15 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số imei: 353299071603584, gắn sim có số thuê bao 0946283567, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, số imei 1: 355228088663685, số imei 2: 355229088663683, gắn sim có số thuê bao 0905882777, đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn M và bị cáo Lê Quang L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Lời khai của các bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, xác định được:

Với mục đích mua ma tuý để sử dụng, khoảng 08 giờ ngày 29/06/2023, Trần Văn M và Lê Quang L sử dụng điện thoại di động để liên lạc với Lê Phước H1 hỏi mua ma tuý H3. M và L thống nhất góp mỗi người 180.000 đồng để mua 03 tép ma túy Heroine với giá 360.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M cất giấu ở tay trái rồi cùng L đi tìm địa điểm sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ Công tác Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 652/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn màu trắng dạng hạt, cục, bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định là ma tuý loại Heroin, có khối lượng 0,3075 gam.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Trần Văn M và Lê Quang L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân dẫn đến gây mất tình hình an ninh trật tự ở địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo Trần Văn M trong quá trình công tác tại Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Q đã có thành tích xuất sắc trong đấu tranh, phòng chống tội phạm, được Giám đốc Công an tỉnh Q tặng Giấy khen nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Xét vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Trần Văn M là người khởi xướng rủ Lê Quang L góp tiền mua ma tuý để sử dụng và là người trực tiếp giao dịch mua ma túy. Bị cáo L là người góp tiền và điều khiển xe mô tô chở M đi mua ma tuý. Bị cáo L là người có nhân thân xấu, đã 04 lần bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo M có nhân thân bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào ngày 28/6/2023.

Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử mức hình phạt của các bị cáo ngang nhau là phù hợp.

[7] Về một số vấn đề liên quan trong vụ án:

Lê Phước H1 đã có hành vi bán ma tuý H3 cho Trần Văn M và Lê Quang L vào ngày 29/6/2023 nên đã bị khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” trong một vụ án khác.

[8] Về vật chứng:

- Ngày 25/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 56/QĐ-CQCSĐT trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Lê Quang P 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 74C1-425.45, số máy: JF63E-2462316, số khung: RLHJF631XKZ011578.

- Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3 1905465, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số imei: 353299071603584, gắn sim có số thuê bao 0946283567, đã qua sử dụng thuộc sở hữu của Trần Văn M; 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, số imei 1: 355228088663685, số imei 2: 355229088663683, gắn sim có số thuê bao 0905882777, đã qua sử dụng thuộc sở hữu của Lê Quang L.

Các bị cáo sử dụng điện thoại di động để liên lạc mua ma tuý với mục đích tàng trử sử dụng, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[9] Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Văn M và Lê Quang L thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn M và Lê Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Trần Văn M 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 6 năm 2023.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Lê Quang L 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 6 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3 1905465, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số imei: 353299071603584, gắn sim có số thuê bao 0946283567; 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime màu đen, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, số imei 1: 355228088663685, số imei 2: 355229088663683, gắn sim có số thuê bao 0905882777.

Các vật chứng trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc Trần văn M, Lê Quang L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 114/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn M, Lê Quang L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger