Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HS-ST

Ngày 17-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Mạnh

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng và bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 120/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1967 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã TĐ, huyện TN, thành phố HP; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Đào Thị B; có vợ là Nguyễn Thị M và có 02 con; tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2014/HSST ngày 28/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt Nguyễn Văn D 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. D đã thi hành xong án phí và tiền phạt bổ sung vào ngày 27/3/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2020 (chưa xóa án tích).

Bị tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 08/6/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn T, xã TĐ, huyện TN, thành phố HP; vắng mặt.
  • - Anh Đinh Văn L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn BK, xã LL, huyện TN, thành phố HP; vắng mặt.
  • - Điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng còn có:

Bà Nguyễn Thị Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

Ông Phạm Thế Duyệt - Kiểm tra viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên.

Các ông Nguyễn Quang Duy, Vũ Biên Cương, Phạm Sơn Nguyên, Lê Đức Anh, Hoàng Đắc Tài - Cán bộ Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp Công an huyện Thủy Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 02/6/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyện TN và Phòng Phòng chống tội phạm ma túy Bộ tư lệnh cảnh sát biển kết hợp với Công an xã TĐ làm nhiệm vụ tại khu vực thôn T, xã TĐ, huyện TN, thành phố HP phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đinh Văn L và Nguyễn Văn T. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Lợi 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0379863185; tại túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Văn D số tiền 600.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim số 0387456116; 01 xe đạp màu hồng. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an xã TĐ lập biên bản.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của D, Cơ quan Công an thu giữ dưới mặt đệm vị trí đầu giường trong phòng ngủ của D có 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Số ma túy này D khai dùng để bán cho những người nghiện ma túy khi họ có nhu cầu.

Tại bản Kết luận giám định số 241/KL-KTHS(MT) ngày 05/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HP kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ trên người Lợi là Heroine, có khối lượng 0,02 gam; chất bột màu trắng thu giữ tại phòng ngủ của D là Heroine, có khối lượng 0,35 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận: Do nghiện ma túy nên D nảy sinh ý định mua Heroine để vừa bán vừa sử dụng. Tối ngày 29/5/2022, D sang khu vực đường tàu nội thành HP mua của một người đàn ông không quen biết 05 gói Heroine với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy D mang về nhà cất giấu trong phòng ngủ. Số ma túy mua được D đã lấy 01 gói ma túy ra để sử dụng. Sáng ngày 02/6/2022, D nhận được điện thoại của Đinh Văn L hỏi mua 01 gói ma túy với giá 600.000 đồng. D đồng ý bán và hẹn Lợi giao dịch tại khu vực bãi rác thuộc thôn T, xã TĐ, huyện TN. D vào phòng ngủ lấy 01 gói ma túy và đạp xe đạp đến điểm hẹn. Tại đây D gặp L và T. L đưa cho D 600.000 đồng, D đưa cho L 01 gói ma túy. Khi hai bên vừa giao dịch xong thì bị Công an bắt quả tang. Ngoài ra, D còn khai nhận đã bán ma túy 02 lần khác, cụ thể:

  • - Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ 30 ngày 30/5/2022, D bán cho Nguyễn Xuân T và Lê Văn Đ 01 gói Heroine với giá 600.000 đồng tại khu vực bãi rác thuộc thôn T, xã TĐ, huyện TN.
  • - Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ 30 ngày 01/6/2022, D bán cho L và Hoàng Phú T 01 gói Heroine với giá 600.000 đồng tại khu vực bãi rác thuộc thôn T, xã TĐ, huyện TN.

Các đối tượng Đinh Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân T, Lê Văn Đ, Hoàng Phú T khai phù hợp với lời khai của D như nội dung nêu trên. L, T, T, Đức, T cùng nhau góp tiền để mua ma túy sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác. Chị M vợ D không biết việc D bán trái phép chất ma túy, chiếc xe đạp màu hồng là của chị M mua đã lâu, ngày 02/6/2022, D hỏi mượn xe đi có việc chứ không nói đi đâu.

Bản Cáo trạng số 115/CT-VKSTN ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo các điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đều khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên. Bị cáo nhất trí với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/6/2022.
  • - Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy số 241MT/PC09. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0379863185 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0387.456.xxx.
  • - Truy thu của bị cáo số tiền 1.200.000 đồng thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những tài liệu chứng cứ đã được thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Vào các ngày 30/5/2022 và ngày 01,02/6/2022, Nguyễn Văn D đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 03 lần cho Đinh Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân T, Lê Văn Đ, Hoàng Phú T và bị Công an phát hiện bắt quả tang ngày 02/6/2022. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ 0,35gam Heroine tại nhà của bị cáo, bị cáo cất giữ để bán cho những người nghiện nhưng chưa kịp bán. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn D đủ cơ sở kết luận cấu thành phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về định khung hình phạt: Bị cáo D có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích: Bản án số 138/2014/HSST ngày 28/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt Nguyễn Văn D 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ra tù ngày 28/4/2020. Ngoài ra, vào các ngày 30/5/2022 và ngày 01,02/6/2022, D thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 03 lần cho Đinh Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân T, Lê Văn Đ, Hoàng Phú T nên phải chịu các tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm, Phạm tội 02 lần trở lên, Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian dài để cải tạo giáo dục, răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và hình phạt: Bị cáo D không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, mẹ bị cáo tham gia thanh niên xung phong, bố vợ bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hiện tại bị cáo bị nhồi máu não do tắc động mạch máu và bị liệt cứng nửa người (T) nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: Chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy số 241MT/PC09 được xác định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0379863185 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0387.456.xxx, các đối tượng dùng để liên lạc trong việc thực hiện mua bán ma túy nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 600.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với khoản tiền 1.200.000 đồng (ngày 30/5/2022 bị cáo đã bán cho T và Đ 600.000 đồng ma túy và ngày 01/6/2022 bị cáo bán cho Lợi và Trường 600.000 đồng ma túy); xét đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu để sung công quỹ Nhà nước. Đối với chiếc xe đạp màu hồng quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị M, chị M không biết D sử dụng xe trên để đi bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị M nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Trong vụ án có Đinh Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân T, Lê Văn Đ, Hoàng Phú T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhân thân các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự, Công an huyện Thủy Nguyên đã xử phạt vi phạm hành chính. Đối với chị Nguyễn Thị M là vợ của bị cáo không biết việc D bán trái phép chất ma túy, không có cơ sở xử lý. Đối tượng bán trái phép chất ma túy cho D quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ không có cơ sở xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn D 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/6/2022.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 1.200.000 (một triệu, hai trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy có niêm phong số 241MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.
  • Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn sim số 0379863185 của Đinh Văn L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có gắn sim số 0387.456.xxx của Nguyễn Văn D.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Phiếu nhập kho số NK2023/08 ngày 18 tháng 10 năm 2022 và Biên lai thu tiền số 0004635 ngày 15 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Ngọc Dũng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Mạnh

Nguyễn Thị Nga

Lương Ngọc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2022/HS-ST ngày 17/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 114/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử Nguyễn Văn Dương 09 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger