TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113A/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-9-2024 Về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Hóa.
- 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang (Số B Hồ Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 469a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1999; địa chỉ: T, Hải Dương, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Hồ Văn P, sinh năm 1998; Địa chỉ: B T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn- chị Lê Thị Mỹ L trình bày:
Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu nhau, chị Lê Thị Mỹ L và anh Hồ Văn P tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 29/03/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế được khoảng 01 tháng thì vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đến khoảng đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nhau nên không có tiếng nói chung, anh P không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vả nhau. Sau đó 03 tháng, chị L chuyển về nhà anh ruột sinh sống, cả hai bắt đầu sống ly thân từ thời điểm đó. Sau này anh P chuyển về quê sinh sống cùng gia đình ở thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong thời gian sống ly thân cả hai không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, ít khi liên lạc, mỗi người đều đã có một cuộc sống riêng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cả hai không muốn hòa giải đoàn tụ nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết để chị L được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị L xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên là: Hồ Ngọc Gia H, sinh ngày 04/11/2019. Chị L có yêu cầu giao con cho anh P nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi vì hiện nay cháu H đang sống cùng bố và ông bà nội. Chị không muốn làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của cháu. Chị L tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con thành niên, đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để bị đơn- anh Hồ Văn P đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng anh P vẫn vắng mặt nên không có lời khai anh P.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, nguyên đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ L, cho chị L được ly hôn với anh Hồ Văn P.
- - Về con chung: Giao con chung Hồ Ngọc Gia H, sinh ngày 04/11/2019 cho anh Hồ Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi; chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Lê Thị Mỹ L không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
- Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Anh Hồ Văn P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh P không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ L và anh Hồ Văn P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/3/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên hôn nhân của chị L, anh P là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng chị L và anh P có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nhau nên không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vả nhau. Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng anh P không đến làm việc đã chứng tỏ anh P có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến hôn nhân này. Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị L vẫn kiên quyết ly hôn với anh P.
Xét thấy vợ chồng chị L và anh P mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, cho chị L được ly hôn với anh P là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.
[3] Về việc nuôi con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con:
Chị L và anh P có 01 con chung là Hồ Ngọc Gia H, sinh ngày 04/11/2019. Hiện nay, cháu H đang được anh P nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao cháu H cho anh P như yêu cầu của chị L để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục cháu H.
Anh P không tham gia tố tụng nên không có ý kiến của anh P về cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, chị L tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung thành niên, đủ 18 tuổi. Sự tự nguyện của chị L là phù hợp với khả năng thực tế của chị L và nhu cầu thiết yếu nuôi dưỡng cháu H nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Mỹ L, cho chị Lê Thị Mỹ L được ly hôn với anh Hồ Văn P. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Hồ Ngọc Gia H, sinh ngày 04/11/2019 cho anh Hồ Văn P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi. Chị Lê Thị Mỹ L cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi cháu H thành niên, đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí giải quyết ly hôn và 300.000 đồng án phí giải quyết cấp dưỡng nuôi con; tổng cộng 600.000 đồng; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp tại biên lai thu số 1901 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang; chị Lê Thị Mỹ L phải nộp thêm 300.000 đồng án phí.
[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[6] Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 113A/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 113A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
