|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1139/2024/HS-PT Ngày: 09-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vương Minh Tâm |
| Các Thẩm phán | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Bà Đinh Ngọc Thu Hương |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 911/2024/TLPT – HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Trần Phương E và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1128/2024/QĐPT-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Trần Phương E, sinh 09/4/2000 tại: Tiền Giang.
- Họ và tên: Trần Duy K, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1986, tại tỉnh Vĩnh Long.
Nơi đăng ký HKTT: ấp Lương Lễ, xã Mỹ Lương, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: ấp 7, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Công T, sinh năm 1974 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968. Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 12 năm 2022, chuyển tạm giam theo lệnh số: 205/LTG-CQCSĐT-ĐTTH ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đào Đức H, Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Nơi đăng ký HKTT: ấp Long Hưng, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở: số 18, đường Thanh Xuân 43, phường Thanh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1957 và con bà Lê Thị Y, sinh năm 1962. Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1993 (đã ly hôn) có 01 con, sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 02 tháng 12 năm 2022, chuyển tạm giam theo lệnh số: 202/LTG-CQCSĐT-ĐTTH ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Yến N, là luật sư của Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo, bị hại không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phương E, sinh năm 2000 là nhân viên làm việc tại kho của Công ty trách nhiệm hữu hạn F (Công ty F1) thuộc Khu công nghiệp L, huyện L, tỉnh Đồng Nai có quen biết với Trần Duy K, sinh năm 1986, Phan Cẩm B, sinh năm 1985 và Trần Công N1, sinh năm 1988 là tài xế và phụ xe ô tô của Công ty trách nhiệm hữu hạn P (Công ty P) tại số A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Em còn quen biết với các đối tượng Nguyễn Văn Q, Trần Công T3, Bùi Hoàng D, Lâm Thế H1 và đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch, địa chỉ). Để phục vụ sản xuất kinh doanh, Công ty F1 đã ký hợp đồng mua túi nilon ký hiệu BAG Thick 5jem & 8jem, 2holes (bao bì túi ni lon) của Công ty P và giao cho Trần Phương E kiểm tra số lượng, trọng lượng và ký nhận nguyên liệu để nhập vào kho. Lợi dụng sơ hở trong quản lý và công việc được giao, E đã bàn bạc với K, B, N1 và các đối tượng Nguyễn Văn Q, Trần Công T3, Bùi Hoàng D, Lâm Thế H1, L (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với phương thức, thủ đoạn như sau:
Trước khi giao túi nylon cho Công ty F1, K điện thoại cho Em để chuẩn bị những bịch đựng túi nilon tồn trong kho. Khi giao hàng, K lái xe ô tô đậu ở cửa kho nguyên liệu rồi cùng B và N1 bốc các bịch đựng túi nilon trên xe ô tô đưa vào kho giao cho E. Cùng lúc này, K, B và N1 để lại một ít bịch đựng túi nilon không đưa vào kho giao cho E nhưng E vẫn ký nhận đủ số lượng. Đồng thời, K, B và N1 bốc số bịch đựng túi nilon tồn mà Em chuẩn bị để ở cửa kho mang lên xe ô tô rồi K điều khiển xe ô tô chở B và N1 mang túi nilon đi bán. Sau khi bán, K sử dụng tài khoản số 0461000461784 tại Ngân hàng V mang tên Trần Duy K chuyển đến tài khoản số 700-014-210038 tại Ngân hàng S mang tên Trần Phương E số tiền theo thoả thuận, số tiền còn lại K, B và N1 chia nhau tiêu xài.
Với phương thức và thủ đoạn như đã nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 07 tháng 9 năm 2021 đến ngày 27 tháng 5 năm 2022, Em, K và B đã thực hiện 17 vụ trộm cắp túi nilon, cụ thể như sau:
Ngày 07 tháng 9 năm 2021, Em, K và B đã thực hiện trộm được 200kg túi nilon. Sau đó, K và B mang đến địa điểm không rõ địa chỉ bán được số tiền là 3.400.000 đồng, K sử dụng tài khoản tại Ngân hàng V chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của cho Trần Phương E mở tại Ngân hàng S, số tiền còn lại 1.400.00 đồng K và B chia nhau mỗi người được 700.000 đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 9 năm 2021 đến ngày 27 tháng 5 năm 2022, Em, K và B đã thực hiện trộm cắp tổng cộng 16 vụ được 7.290kg túi nilon rồi K và B mang đến địa điểm không rõ địa chỉ bán thu được tổng số tiền là 123.930.000 đồng. Sau đó, K sử dụng tài khoản tại Ngân hàng V chuyển tổng số tiền 72.900.000 đồng đến tài khoản của Trần Phương E mở tại Ngân hàng S, số tiền còn lại là 51.030.000 đồng, K và B chia đều mỗi người được số tiền 25.515.000 đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 04 tháng 8 năm 2022 đến ngày 22 tháng 11 năm 2022, cũng với phương thức và thủ đoạn trên, Em, K, B và N1 tiếp tục thực hiện 10 vụ trộm cắp túi nilon, cụ thể như sau:
Ngày 04 tháng 8 năm 2022, Em, K, B và N1 đã lấy trộm được 590kg túi nilon rồi K, B và N1 mang đến địa điểm không rõ địa chỉ bán được số tiền là 10.030.000 đồng. Sau đó, K sử dụng tài khoản tại Ngân hàng V chuyển số tiền 5.900.000 đồng đến tài khoản của Trần Phương E mở tại Ngân hàng S, số tiền còn lại 4.130.000 đồng, K, B và N1 chia đều mỗi người được 1.300.000 đồng; còn dư số tiền 230.000 đồng, K, B và N1 dùng để mua thuốc lá và nước giải khát sử dụng chung.
Từ ngày 15 tháng 8 năm 2022 đến ngày 22 tháng 11 năm 2022, Em, K, B và N1 đã thực hiện trộm cắp tổng cộng 09 vụ được 4.930kg túi nilon rồi K, B và N1 mang đến địa điểm không rõ bán được tổng số tiền 83.810.000 đồng. Sau đó, K sử dụng tài khoản tại Ngân hàng V chuyển tổng số tiền 49.300.000 đồng đến tài khoản của Trần Phương E mở tại Ngân hàng S, còn lại số tiền 34.510.000 đồng, K, B và N1 chia đều mỗi người được số tiền 11.340.000 đồng, còn dư số tiền 720.000 đồng, K, B và N1 dùng để mua thuốc lá, nước giải khát sử dụng chung. Như vậy, từ ngày 07 tháng 9 năm 2021 đến ngày 22 tháng 11 năm 2022, Trần Phương E cùng với Trần Duy K, Phan Cẩm B, Trần Công N1 đã bàn bạc trộm cắp tài sản 27 vụ, tổng cộng 13.010kg túi nilon PE BAG Thick 5jem&8jem, 2holes có tổng trị giá 520.535.000 đồng. Trong đó, Trần Công N1 tham gia cùng với E, K và B thực hiện trộm cắp 10 vụ với số lượng 5.520kg túi nilon PE BAG Thick 5jem&8jem, 2holes trị giá 223.560.000 đồng. Em, K, B và N1 đã bán toàn bộ số tài sản trên thu lợi bất chính số tiền 221.170.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân.
Quá trình điều tra, Trần Phương E còn khai nhận với phương thức thủ đoạn như đã nêu trên, từ ngày 14 tháng 5 năm 2021 đến ngày 26 tháng 10 năm 2022, Em đã cùng các đối tượng tên Nguyễn Văn Q, Trần Công T3, Bùi Hoàng D, Lâm Thế H1, L (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) thực hiện 81 vụ trộm cắp túi nilon PE BAG Thick 5jem&8jem, 2holes của Công ty F1. Tổng số túi nilon mà Em cùng đồng phạm cắp là 52.695kg trị giá 2.272.261.750 đồng. Sau khi trộm cắp, các đối tượng mang túi nilon bán lấy tiền tiêu xài. Trong đó, E thu lợi số tiền là 526.950.000 đồng.
Ngày 02 tháng 12 năm 2022, Trần Phương E, Trần Duy K, Phan Cẩm B và Trần Công N1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen của Trần Phương E đã sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone xs màu vàng Gold của Trần Duy K đã sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 8 Plus của Phan Cẩm B đã sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại hiệu Vivo Z3I màu hồng của Trần Công N1 đã sử dụng vào việc phạm tội.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai xác định hiện trường vụ án xảy ra tại Công ty trách nhiệm hữu hạn F, khu công nghiệp L, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai như sau: Bên trong khu vực Công ty trách nhiệm hữu hạn F được chia thành 05 dãy nhà kho được đánh số thứ tự 1, 2, 3, 3A, 5 theo hướng Bắc-Nam, trong đó kho số 1 là nơi chứa nguyên liệu sản xuất gồm nhiều chủng loại, bịch túi nilon PE được xếp tại 02 kệ sắt phía bên trái cửa kho đi vào. Các khu vực khác còn lại trong kho số 1 thì chứa các loại nguyên liệu khác nhau.
Tại khu vực chứa bọc nilon PE và phía trước cửa ra vào bên hông trái của Kho số 1 là nơi mà Trần Duy K, Trần Phương E, Phan Cẩm B và Trần Công N1 đã cùng nhau thỏa thuận lén lút chiếm đoạt tài sản là bịch nilon PE của Công ty nhiều lần trong khoảng thời gian từ năm 2021-2022.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 205/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 144 bịch túi nilon PE Bag Thick 5jem&8jem 2holes với tổng trọng lượng là 1.440kg trị giá 58.320.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 177/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 1.157 bịch túi nilon PE Bag Thick 5jem&8jem 2holes với tổng trọng lượng là 11.570kg trị giá 462.215.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 6107/STC-HĐĐGTSTTHS ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai, kết luận: số lượng 51.935 kg bao bì túi nilon PE Bag Thick 5jem&8jem 2holes (quy cách 15x17(cm); 16.5x26.5(cm); 30x35(cm); 50x90 (cm) trị giá: tháng 5/2021 là 3.085.190.250 đồng; tháng 10/2021 là 2.085.190.250 đồng; tháng 3/2022 là 2.215.547.100 đồng; tháng 7/2022 là 2.327.726.700 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đình L1 đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn F yêu cầu Trần Phương E, Trần Duy K, Phan Cẩm B, Trần Công N1 và các đối tượng liên quan bồi thường số tiền 2.792.796.750 đồng.
Tại Cáo trạng số 252/CT-VKS-P2 ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Phương E, Trần Duy K, Phan Cẩm B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Trần Công N1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phương E, Trần Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Trần Phương E: 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2022.
2.2. Xử phạt bị cáo Trần Duy K: 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án dân sự, áp dụng luật thi hành án dân sự và quyền kháng cáo của các bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Ngày 28/8/2024 và ngày 05/9/2024, bị cáo Trần Duy K và bị cáo Trần Phương E kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Phương E rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo Trần Duy K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo trình bày là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo đã nộp thêm số tiền 40 triệu đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Phương E rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với bị cáo E.
Đối với bị cáo K, tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết là gia đình bị cáo đã nộp thêm số tiền 40 triệu đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm 01 phần hình phạt cho bị cáo.
- Luật sư Nguyễn Thị Yến N trình bày bào chữa cho bị cáo K: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội nên luật sư không tranh luận về tội danh. Về hình phạt, thống nhất với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo đã trình bày để xem xét cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo K đề nghị Hội đồng xét xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Phương E, Trần Duy K làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Phương E tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Phương E.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Duy K:
[3.1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Duy K tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo khác tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định thiệt hại, Kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ pháp lý để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 07 tháng 9 năm 2021 đến ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn F, Khu công nghiệp L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Trần Phương E, Trần Duy K, Phan Cẩm B và Trần Công N1 cùng bàn bạc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 27 vụ, chiếm đoạt tổng cộng 13.010kg túi nilon PE BAG Thick 5jem & 8jem, 2holes, trị giá 520.535.000 đồng.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 5 năm 2021 đến ngày 26 tháng 10 năm 2022, Trần Phương E cùng các đối tượng tên Nguyễn Văn Q, Trần Công T3, Bùi Hoàng D, Lâm Thế H1 và tên L (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 81 vụ, tổng cộng 52.695kg túi nilon PE BAG Thick 5jem & 8jem, 2holes trị giá 2.272.261.750 đồng.
Tổng số tiền Trần Phương E, Trần Duy K, Phan Cẩm B, Trần Công N1 cùng các đối tượng Nguyễn Văn Q, Trần Công T3, Bùi Hoàng D, Lâm Thế H1 và tên L (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) đã chiếm đoạt là 2.792.796.750 đồng.
Xét thấy, bị cáo Trần Duy K thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Duy K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2.2] Về hình phạt:
Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người dân và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Duy K là đồng phạm giúp sức tích cực, thực hiện hành vi trộm cắp tổng cộng 27 vụ, với số lượng 13.010kg túi nilon PE BAG Thick 5jem&8jem, 2holes có tổng trị giá 520.535.000 đồng. Bị cáo cũng là người trực tiếp tham gia bán toàn bộ số tài sản đã chiếm đoạt, thu lợi bất chính số tiền 91.070.000 đồng. Trong đó bản thân bị cáo hưởng lợi số tiền 39.095.000 đồng.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Trần Duy K có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 2 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo ra đầu thú, hoàn cảnh khó khăn, học vấn thấp. Bị cáo đã ly hôn, phải nuôi 02 con còn nhỏ, hiện cha mẹ bị cáo đang bị bệnh. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, quá trình điều tra và xét xử tại cấp sơ thẩm đã khắc phục được số tiền 30.000.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Trần Duy K mức án 14 (mười bốn) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo Trần Duy K đã nộp thêm số tiền 40.000.000 đồng theo Biên lai thu số 69357 ngày 28/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết mới nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo K, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị cáo Trần Duy K, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà và lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo K là có căn cứ để chấp nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Trần Duy K.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Phương E phải chịu án phí phúc thẩm. Bị cáo Trần Duy K không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Phương E.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Duy K. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52; điểb, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Trần Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trần Duy K 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2022.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng để bảo đảm thi hành án theo Biên lai thu số 69357 ngày 28/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Phương E phải chịu án phí phúc thẩm số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Bị cáo Trần Duy K không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Minh Tâm |
|
CÁC THẨM PHÁN |
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Minh |
Đinh Ngọc Thu Hương |
Vương Minh Tâm |
Bản án số 1139/2024/HS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 1139/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Phương Em
