|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1135/2024/HNGĐ-ST Ngày 05 - 9 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Bé;
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Phan Mỹ Hà-Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 6691/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 482/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 2001 (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc T, sinh năm: 1992.
Nơi thường trú: Số F N, tổ A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi thường trú: Số G Tỉnh lộ 8, tổ F, ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam P (Cục C), huyện P, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 09/5/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Huỳnh Quốc T quen biết tìm hiểu nhau năm 2021, tự nguyện xây dựng gia đình năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, chỉ làm đám hỏi, chưa tổ chức cưới. Sau khi xây dựng gia đình xong, vợ chồng bà sống bên nhà chồng vài tháng sau đó về nhà mẹ bà ở, mâu thuẫn giữa bà và ông T xảy ra từ lúc cả hai quen nhau và sau khi xây dựng gia đình, ông T không chịu đi làm kiếm tiền lo cho kinh tế gia đình mà ỷ lại vào gia đình chồng, chỉ thích ăn nhậu, chơi bời, ngoài ra mẹ chồng bà còn mượn bà số tiền 100.000.000đ nhưng hứa hẹn nhiều lần vẫn chưa trả đủ, bà rất chán nản, thêm vào đó là việc ông T đến nhà bà gây rối, đập phá đồ đạc nên bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Hủy hoại tài sản”, hiện ông T đang chấp hành án tại Trại giam P, huyện P, tỉnh Bình Dương được hơn 01 năm, mỗi lần bà vào Trại giam thăm thì phải chu cấp cho ông T 5.000.000đ, trong khi mẹ chồng không lo gì mà chỉ biết khóc và mượn tiền của bà. Bà xác định bà không còn tình cảm với ông T, mục đích hôn nhân giữa bà và ông T không đạt vì gia đình phải có vợ có chồng, nay ông T chấp hành án thời gian quá dài, bà không thể chờ đợi được, bà còn phải lo cho cuộc sống của mình, do vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn. Sau này khi ông T chấp hành án xong, được trở về hòa nhập với xã hội, nếu ông Triệu chịu lo làm ăn thì bà sẽ suy nghĩ lại về mối quan hệ với ông T.
Bà và ông T không có con chung, tài sản chung và nợ chung.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024 đối với bị đơn là ông Huỳnh Quốc T- hiện đang chấp hành án tại Trại giam P (Cục C), huyện P, tỉnh Bình Dương, ông T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị L quen biết nhau vào năm 2021, đến ngày 01/11/2022 đăng ký kết hôn, có làm đám hỏi, chưa làm đám cưới. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng ông sống bên gia đình ông được khoảng 01 năm thì ông phải đi chấp hành án tại Trại giam P, nguyên nhân ông bị đi tù cũng là do vợ ông. Giữa vợ chồng ông không có mâu thuẫn, chỉ có bản thân ông và gia đình vợ là có mâu thuẫn từ trước khi vợ chồng ông đăng ký kết hôn nhưng mâu thuẫn này đã được giải quyết xong trước khi vợ chồng ông về sống chung. Ông nhận thấy giữa ông và bà L vẫn còn tình cảm nhưng nếu bà L muốn ly hôn thì ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết theo quy định của pháp luật, nếu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi vận động được vợ ông rút đơn thì thì ông cảm ơn.
Ông và bà L không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
- Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ đúng quy định; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về nội dung, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L; về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung do các đương trình bày không có nên đề nghị không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 09/5/2024, bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Huỳnh Quốc T, con chung không có, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông T có địa chỉ cư trú trước khi bị tạm giam tại số G Tỉnh lộ 8, tổ F, ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Đ a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Quốc T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 109/2022, ngày 01/11/2022 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà L thì bà và ông T tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2022, trước khi xây dựng gia đình giữa 02 bên đã có mâu thuẫn và khi về chung sống tình trạng mâu thuẫn vẫn vậy, nguyên nhân do ông T không lo làm ăn, ham chơi, nhậu nhẹt làm cho bà bất mãn, ngoài ra việc ông T gây rối, đập phá đồ đạc nhà bà và bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 06 năm 06 tháng tù càng làm cho mâu thuẫn ngày càng lớn, hiện ông T đang đi chấp hành án tại Trại giam P, bà nhận thấy việc bà đến với ông T là để xây dựng gia đình, gia đình phải có vợ có chồng, do ông T phải chấp hành án thời gian dài nên mục đích hôn nhân giữa bà và ông T không đạt nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, sau khi ông T chấp hành án xong và lo làm ăn thì bà sẽ suy nghĩ lại về mối quan hệ này.
Xét ông T cho rằng giữa ông và bà L không có mâu thuẫn, vẫn còn tình cảm nhưng phía bà L xác định bà không còn tình cảm với ông T, hơn nữa ông T đang phải chấp hành án tại Trại giam P, thời gian chấp hành án dài nên mục đích hôn nhân giữa ông T và bà L không đạt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông T là có cơ sở.
[4] Về con chung:
Bà L và ông T xác định không có con chung.
[5] Về tài sản chung:
Bà L và ông T xác định không có.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà L và ông T xác định không có.
[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lụa L1 có cơ sở, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị L và ông Huỳnh Quốc T.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 109/2022, ngày 01/11/2022 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà L và ông T xác định không có.
- Về tài sản chung: Bà L và ông T xác định không có.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà L và ông T xác định không có.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0015482 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà L đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
- Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 1135/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1135/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
