Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 1133/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05 - 9 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Bé;
  2. Ông Nguyễn Văn Vân.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 558/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 402/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 453/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Anh T, sinh năm: 1998 (Có mặt).
  2. Nơi thường trú: Số B, đường số E, tổ F, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số B P, ấp X, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh K, sinh năm: 1993 (Vắng mặt).
  4. Nơi thường trú: Số B, đường số E, tổ F, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 02/5/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Trần Thị Anh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh K quen biết tìm hiểu nhau năm 2016, tự nguyện xây dựng gia đình năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, có tổ chức cưới. Sau khi xây dựng gia đình xong, vợ chồng bà sống bên nhà bà, sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng làm ăn không thuận lợi dẫn đến đổ nợ, ông K không có trách nhiệm cùng bà lo làm ăn để trả nợ, để một mình bà phải gồng gánh, từ đó vợ chồng thường xảy ra cãi vã, xô xát lẫn nhau, đến năm 2020 vì không còn chịu đựng được nên bà bỏ đi thuê nhà trọ sống, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Bà cảm thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà và ông K không còn hạnh phúc, không ai quan tâm đến ai, do vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn.

Bà và ông K có 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuấn A, sinh ngày 06/5/2020, từ lúc bà đi cho đến nay con chung ông K nuôi dưỡng nên bà đồng ý giao cháu Tuấn A cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con nhưng sẽ phụ lo cho con.

Giữa bà và ông K không có tài sản chung, không có nợ chung.

* Bị đơn là ông Nguyễn Thanh K vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
  2. Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 02/5/2024 và tại phiên tòa, bà Trần Thị Anh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Thanh K, con chung có 01 cháu bà T đồng ý giao cho ông K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông K hiện đang cư trú tại địa chỉ Số B, đường số E, tổ F, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Đ a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

  3. Về tố tụng:
  4. Bị đơn là ông Nguyễn Thanh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (ông K trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn không đến Tòa án, do đó Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt ông K theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

  5. Về quan hệ hôn nhân:
  6. Bà Trần Thị Anh T và ông Nguyễn Thanh K tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 141, ngày 24/7/2017 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.

    Xét trình bày của bà T thì bà và ông K tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2017, sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng làm ăn đổ nợ, ông K không phụ bà lo làm ăn trả nợ mà để một mình bà xoay sở, năm 2020 bà thuê nhà trọ sống riêng, cho đến nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai bên xa nhau đã lâu, không ai quan tâm đến ai nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

    Xét ông K không đến Tòa án theo giấy triệu tập để có ý kiến về mối quan hệ vợ chồng giữa ông và bà T, điều đó cho thấy ông K không còn muốn duy trì quan hệ vợ chồng cùng với bà T, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do bà T cung cấp, hiện bà T và ông K không còn chung sống cùng chung một địa chỉ, do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải xác minh về tình trạng hôn nhân của ông bà tại địa phương theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Nhận thấy tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông K đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông K là có cơ sở.

  7. Về con chung:
  8. Bà T và ông K có 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuấn A, sinh ngày 06/5/2020, cháu A hiện đang sống với cha nên bà T đồng ý giao cháu A cho ông K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con, để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu D cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông K không đến Tòa án để có ý kiến về các con chung hay việc cấp dưỡng nuôi con, do vậy nếu sau này ông K có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.

  9. Về tài sản chung:
  10. Bà T xác định không có.

  11. Về nghĩa vụ dân sự chung:
  12. Bà T xác định không có.

  13. Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
  14. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Trần Thị Anh T về việc cho ly hôn giữa bà Trần Thị Anh T và ông Nguyễn Thanh K.

    Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 141, ngày 24/7/2017 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung:
  4. Bà T và ông K có 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuấn A, sinh ngày 06/5/2020.

    Giao cháu A cho ông K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con.

    Trường hợp ông K có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết ở một vụ kiện khác.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  5. Về tài sản chung: Bà T xác định không có.
  6. Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T xác định không có.
  7. Về án phí sơ thẩm:
  8. Bà Trần Thị Anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0015233 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà T đã nộp đủ án phí.

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

  9. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1133/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1133/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger