TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1133/2024/HS-PT
Ngày: 05 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên cao cấp.
Trong các ngày 28 tháng 11 và 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 704/2024/TLPT–HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1970 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Thường trú: E N, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Dạy tiếng Anh; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); chồng là Charees George N (đã chết); không có con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giam từ ngày 14/3/2019 đến ngày 09/7/2020 hiện đang tại ngoại. (có mặt)
Người bào chữa:
- Luật sư Đặng Hồng D, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (vắng mặt)
- Luật sư La Văn T1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt)
Người làm chứng:
- + Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1969; Địa chỉ: 1 đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
(Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2015, Nguyễn Thị Mỹ L quen biết ông Ngô Anh T2 là Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV M2, mã số doanh nghiệp 3602196958 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 11/12/2009, trụ sở đặt tại ấp P, quốc lộ E, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; đồng thời là chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Trung Hòa, trụ sở đặt tại ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 47H8001130 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp ngày 16/4/2003. Quá trình điều tra và điều tra lại, L và ông T2 đều khẳng định mối quan hệ giữa hai người chỉ là quan hệ xã hội, mới quen biết, không có quan hệ yêu đương nam nữ gì với nhau.
L khai, ngay sau khi mới quen biết, từ tháng 02/2015 đến tháng 5/2015, L giao cho ông T2 3,2 tỷ đồng tiền mặt, gồm 03 (Ba) tỷ đồng L góp vốn kinh doanh bất động sản cùng ông T2 và 200 triệu đồng L cho ông T2 mượn để mua sắm vật dụng và cúng chùa. Tuy nhiên, quá trình điều tra và điều tra lại, L không có giấy tờ hay chứng cứ chứng minh đã giao số tiền 3,2 tỷ đồng cho ông T2.
Về phía ông T2, quá trình điều tra và điều tra lại đều khai không nhận 3,2 tỷ đồng như L khai.
Ngày 25/5/2015, L và ông Trung L1 và ký 02 (hai) văn bản dưới đây:
- * Văn bản thứ nhất có nội dung:
“CAM KẾT NHẬN GÓP VỐN TRONG VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Hôm nay, ngày 25/5/2015, chúng tôi ký tên dưới đây những người tự nhận thấy có đủ năng lực, hành vi và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.
Căn cứ vào sự góp vốn chuyển nhượng QSDĐ tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi thống nhất, chúng tôi tự thỏa thuận với nhau, với nội dung như sau:
- + Bên A (bên chuyển nhượng), bên nhận góp vốn:
- - Ông Ngô Anh T2
- - Ngày tháng năm sinh: 04/6/1975
- - CMND số [...] cấp ngày 06/11/2009;
- - HKTT: 1/47 tổ B, ấp Đ, xã L, L, Đồng Nai.
- + Bên B (bên nhận chuyển nhượng, bên nhận góp vốn)
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ L
- - Ngày tháng năm sinh: 15/12/1970
- - CMND số [...] cấp ngày 09/7/2008;
- - HKTT: 50 N, phường D, TP V.
Điều 1: Tài sản bên A
Ông Ngô Anh T2 hiện đang sử dụng và quản lý thửa đất số 53, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, diện tích 11.000 m² giá trị hiện nay là 9 tỷ đồng, chưa có giấy chứng nhận QSDĐ.
Điều 2: Nội dung góp vốn
Do tính chất giao dịch trong việc góp vốn QSDĐ toàn bộ diện tích đất đã nêu tại Điều 1, Bên A đồng ý cho Bên B góp vốn 4 tỷ đồng bằng 5.500 m² đất thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể như sau:
- Ông Ngô Anh T2 5.500 m² = 4 tỷ đồng.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L 5.500 m² = 4 tỷ đồng.
Điều 3: Cam kết của Bên A
Bên A quản lý và sử dụng tổng số diện tích thửa đất trên. Nếu có chuyển nhượng thì phải báo và thỏa thuận cho Bên B biết.
Điều 4: Cam kết của Bên B
Nếu có chuyển nhượng thì phải báo và thỏa thuận cho Bên A biết.
Điều 5: Điều khoản chung
- Hai nên cam kết thực hiện đầy đủ nội dung góp vốn trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Mọi sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nội dung góp vốn trong việc chuyển nhượng QSDĐ chỉ có giá trị pháp lý khi được lập thành văn bản do Bên A và Bên B ký tên.
- Cam kết ...được lập thành 2 bản...mỗi bên giữ 1 bản. Sau khi đọc lại lần cuối cùng và hiểu rõ, hai bên cùng ký tên dưới đây. Bên A: Ngô Anh T2. Bên B: Nguyễn Thị Mỹ L” (bút lục 120, 123, 124).
- * Văn bản thứ hai có nội dung:
“GIẤY XÁC NHẬN
Hôm nay, ngày 25/5/2015.
Tôi tên: Ngô Anh T2. Sinh ngày 04/6/1975.
- CMND số [...] cấp ngày 06/11/2009.
- HKTT: 1/47 Ấp Đ, xã L, L, Đồng Nai.
Tôi có nhận các Giấy chứng nhận QSDĐ sau (bản chính).
- CNQSDĐ số BE 433711.
- GCNQSDĐ số BS 306350.
- GCNQSDĐ số BQ 686938.
- GCNQSDĐ số AD 018211
Lý do: Nhận chuyển nhượng QSDĐ và làm thủ tục chuyển nhượng QSDĐ.
Giấy xác nhận này được làm 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. Người giao ký: Nguyễn Thị Mỹ L. Người nhận ký: Ngô Anh T2” (bút lục 131)
Kết quả điều tra và điều tra lại về việc lập và ký 02 văn bản này như sau:
- + Nguyễn Thị Mỹ L khai nhận về 02 văn bản này như sau:
- Đối với văn bản thứ nhất: L khai do sau khi đã góp vốn 3 tỷ đồng nhưng ông T2 không tiến hành kinh doanh đất như thỏa thuận, L hối thúc thì ông T2 nói đang sử dụng và quản lý thửa đất số 53, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, diện tích 11.000 m² giá trị 9 tỷ đồng nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên thống nhất lập văn bản để xác nhận L đã góp vốn tương đương giá trị 5.500 m². Qua đánh giá lời khai của L, nhận thấy: L khai góp vốn 50% số tiền là 3 tỷ đồng nhưng trong văn bản lại ghi giá trị lô đất 9 tỷ đồng, L góp vốn giá trị tương đương 5.500 m² nhưng lại ghi số tiền góp vốn 4 tỷ đồng là hoàn toàn mâu thuẫn và không phù hợp.
- Đối với văn bản thứ hai: L khai mục đích giao cho ông T2 05 (năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BE 433711, BS 306350, BQ 686938, AD 018211, AH 566412 và giấy tờ đính kèm là nhờ ông T2 hoàn chỉnh các thủ tục sang tên giấy tờ đất mà L nhận chuyển nhượng đã công chứng; sau đó L nhờ ông T2 bán giúp 5 lô đất trên nhưng ông T2 yêu cầu L phải viết giấy chuyển nhượng sang tên toàn bộ 5 lô đất cho ông T2 thì ông T2 mới giúp. Vì thế nên L đã phải viết văn bản có nội dung nêu trên (văn bản ghi thiếu 01 giấy số AH566412 nhưng hai bên thống nhất số lượng là 05 giấy).
- + Ông T2 khai như sau:
- Đối với văn bản thứ nhất: Ông T2 thừa nhận giữa ông với L có lập và ký văn bản thỏa thuận góp vốn như đã nêu trên, nhưng thực tế L chưa giao tiền góp vốn cho ông nên văn bản không có giá trị gì.
- Đối với văn bản thứ hai: Ông T2 khai L đã chuyển nhượng toàn bộ 05 hồ sơ đất nêu trên cho ông với giá 6 tỷ đồng. Qua đánh giá lời khai của ông T2, nhận thấy: Việc mua – bán không có hợp đồng theo quy định, ông T2 không có giấy tờ chứng minh đã giao 6 tỷ đồng mua đất cho L, không có người làm chứng, nên lời khai này là mâu thuẫn và không phù hợp.
Do mâu thuẫn chuyện tiền bạc, giấy tờ đất đai nên ngày 31/5/2015, L đã cùng 6 người đàn ông thực hiện hành vi cướp tiền của ông T2, cụ thể như sau:
L khai: khoảng 08h00' ngày 31/5/2015, L đến chùa B1 thuộc xã T, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp một người đàn ông không rõ lai lịch. L kể lại sự việc bị ông T2 chiếm đoạt tiền và giấy tờ đất thì người đàn ông nói sẽ giúp L lấy lại tiền, giấy tờ đất từ ông T2, L đồng ý. Người đàn ông này gọi thêm 05 (năm) người đàn ông khác đến cùng đi.
Khoảng 11h00' cùng ngày, L thuê một taxi 7 chỗ (không nhớ biển số xe, hãng taxi, tên tài xế) chở L cùng 6 người đàn ông đi theo Quốc lộ E từ huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến nhà ông T2 ở 1 tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Thấy ô tô biển số 60A-003.59 của ông T2 đang đỗ ở sân nhà, L yêu cầu lái xe taxi đỗ cách nhà ông T2 vài căn nhà để theo dõi, canh chừng. Khi thấy ông T2 điều khiển ô tô chạy về hướng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, L yêu cầu lái xe taxi bám đuôi theo xe ông T2.
Ông T2 lái ô tô đến quán C1 thuộc khu phố V, thị trấn P, huyện T (cũ), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để gặp bà Vũ Thị N1 theo hẹn. Khoảng hơn 13h00', xe ông T2 vào bãi đậu xe của quán khi xe ô tô của bà N1 vừa đến nơi. Ông T2 và bà N1 vào ngồi một bàn trong quán, không biết xe taxi chở L và 6 người đàn ông theo dõi, bám đuôi từ tỉnh Đồng Nai. Trong quán có bà N1 và các nhân viên phục vụ quán gồm: anh Nguyễn Thanh T3, bà Ngô Thị H, chị Lê Kim P, cùng trực tiếp chứng kiến toàn bộ diễn biến chi tiết sự việc như sau:
Khi ông T2 và bà N1 đã ổn định chỗ ngồi tại một bàn trong quán, thì 6 người đàn ông đi vào ngồi một bàn phía ngoài gần đó, còn L đứng ở cổng ít phút rồi mới đi vào quán. Khi L đi đến bàn ông T2 và bà N1 đang ngồi thì 6 người đàn ông cùng đứng dậy. 01 người đi ra trước cổng quán cảnh giới, 01 người đến quầy tính tiền đe dọa nhân viên “Không ai được gọi điện thoại”, 04 người còn lại cùng L đứng vây quanh bàn ông T2 và bà N1.
L yêu cầu ông T2 trả tiền và giấy tờ đất thì giữa L và ông T2 cự cãi nhau. Một người đàn ông lớn tiếng với ông T2: “Mày lợi dụng phụ nữ, mày lừa đảo, trả lại tiền và giấy tờ đất cho người ta”. Ông T2 đứng dậy thì bị hai người đàn ông đứng hai bên phía sau khống chế, cầm hai tay ông T2 bẻ quặt ra sau ghì chặt xuống ghế. Một người đàn ông dùng tay đánh nhiều cái vào mặt ông T2 gây chảy máu trên mặt, rồi lấy trong người một chai mắm tôm chuẩn bị sẵn đổ lên đầu ông T2. Thấy ông T2 bị đánh, L và bà N1 có nói “Đừng có đánh nữa”, nhưng L không có hành động gì ngăn cản. Trong lúc ông T2 đang bị khống chế thì L lấy chìa khóa xe ô tô của ông T2 trên mặt bàn rồi cùng một người đàn ông đi ra xe ô tô của ông T2; bà N1 thấy vậy cũng đứng dậy đi theo. L dùng chìa khóa mở cửa xe ô tô của ông T2, lục soát trong xe không thấy gì nên đóng cửa xe lại, tiếp tục mở khóa cốp sau xe ô tô thấy có 02 túi xách nên lấy ra đưa cho người đàn ông, đóng cốp xe lại rồi cùng người đàn ông đi vào chỗ bàn ông T2. Khi đi ngang qua chỗ bà N1 đang đứng, người đàn ông nói với bà N1: “Con này đi vào đây xem thằng bạn khốn nạn của mày này”.
L và người đàn ông để chìa khóa xe ô tô và 02 túi xách lên bàn trước mặt ông T2 vẫn đang bị khống chế. L dùng tay mở khóa dây kéo 01 túi xách hiệu BVLGARI màu trắng xanh lục tìm nhưng không có tiền hay tài sản gì, chỉ thấy đựng thuốc tây (tân dược). Chiếc túi xách còn lại màu đen hiệu Samsonite có khóa số. L và người đàn ông yêu cầu ông T2 cung cấp mã số để mở khóa. Ông T2 không cung cấp mà giằng lấy túi xách ném ra xa xuống đất thì bị người đàn ông tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào mặt. L nhặt túi xách để lại trên bàn, rồi dùng một cây bút mang theo chọc mạnh vào dây kéo làm dây khóa kéo bung ra. L mở túi xách, đổ hết tất cả ra mặt bàn, lục tìm thấy có 15 cọc tiền mặt loại mệnh giá 500 nghìn đồng và một số giấy tờ đất; cầm 01 cọc tiền kiểm đếm thấy có 100 tờ/cọc = 50 triệu đồng/cọc, nhẩm tính tổng số 15 cọc tiền là 750 triệu đồng mà không kiểm đếm toàn bộ. L lấy 15 cọc tiền, 05 giấy tờ đất cho vào túi xách của L, nhẩm tính số tiền đã đưa cho T2 trước đây thì T2 còn nợ L 02 tỷ 450 triệu đồng nên yêu cầu T2 viết giấy nhận nợ. T2 không viết vì cho rằng chữ xấu và nói L viết rồi T2 ký, L lấy ra 01 tờ giấy viết nội dung:
“GIẤY XÁC NHẬN
Tôi tên: Ngô Anh T2, SN 04/6/75;
CMND [...] cấp ngày 6/11/2009;
Địa chỉ Ấp Đ, xã L, L, Đồng Nai.
Tôi xác nhận có nhận 3 tỷ hai trăm (ba tỷ hai trăm ngàn đồng) của cô Nguyễn Thị Mỹ L, SN 15/12/1970, CMND [...] địa chỉ 50 N, P, TP V. Nay tôi trả lại 750 triệu đồng. Phần còn lại 2,450 triệu đồng sẽ hoàn trả lại vào ngày 31/5/2015.
Do tôi không viết được (viết chữ xấu không đọc được), nên tôi có nhờ cô L viết dùm. Khi tôi làm giấy xác nhận này, tôi hoàn toàn tỉnh táo và tự nguyện, không có sự ép buộc nào. Tôi xác định những gì nêu trên đây là đúng sự thật. Tôi xin hoàn toàn chịu trước pháp luật nếu có sự gian dối nào.
Ngày 31/5/2015. Ký tên: Ngô Anh T2”.
L và nhóm đàn ông bắt ông T2 ký vào tờ giấy có nội dung viết sẵn nêu trên. Do bị khống chế nên ông T2 buộc phải ký vào tờ giấy trên và viết thêm chữ và số cạnh chữ ký của mình. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cho ông T2 xem tờ giấy và yêu cầu tự đọc lại những nội dung viết thêm nhưng bản thân ông T2 cũng không nhớ, không đọc được nội dung viết thêm là gì.
Sau khi chiếm đoạt được 750 triệu đồng của ông T2 và lấy được 5 giấy tờ đất, L cùng 06 người đàn ông đi ra xe taxi đang chờ sẵn ở cổng rời khỏi hiện trường. Ra đến Quốc lộ E thì 06 người đàn ông xuống xe, còn L yêu cầu taxi đưa về nhà số E N, phường D, thành phố V; gửi túi xách đựng tiền và 05 giấy tờ đất nhờ chị dâu là bà Nguyễn Thị N2 cất giữ mà không nói cho bà N2 biết trong túi xách có gì, rồi đi về nhà ở số G Lô C, L, Phường B, thành phố V. Bà N2 khai cất túi xách L gửi vào trong tủ gia đình, không kiểm tra bên trong nên cũng không biết trong túi có gì.
Sau khi L cùng 06 người đàn ông rời khỏi hiện trường, bà N1 giúp ông T2 nhặt đồ vật bị đổ ra, cho lại vào hai túi xách. Ông T2 để nguyên các dấu vết máu, thương tích, cùng bà N1 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trình báo sự việc, khai báo tài sản bị L chiếm đoạt gồm:
- Tiền mặt: 15 tỷ đồng;
- - 01 (một) nhẫn kim cương trị giá 12.000 USD;
- - 01 (một) dây chuyền 02 (hai) lượng vàng 18K;
- - Một số giấy tờ đất và hợp đồng mua bán đất.
Bà N1 thấy ông T2 khai báo số tiền, tài sản bị chiếm đoạt không đúng với thực tế nên điện thoại báo cho L biết. Khoảng 16h30' cùng ngày, L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T khai chỉ chiếm đoạt số tiền 750 triệu đồng và lấy được 05 giấy tờ đất.
8h30' ngày 01/6/2015, L mang số tiền chiếm đoạt được và 05 giấy tờ đất đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T giao nộp. Cơ quan điều tra đã lập biên bản tạm giữ:
- - Tiền mặt: 15 cọc, kiểm đếm xác định được tổng số 739 triệu đồng;
- - 05 (năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BE433711, BS306350, BQ686938, AD018211, AH 566412.
Tại Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 314/TgT ngày 29/12/2015, Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận tình trạng thương tích bị hại Ngô Anh T2 như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định: 01 (một) sẹo phần mềm ở môi trên lành tốt; 2. Thương tích trên phù hợp được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tày; 3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 01 %”
Tại Kết luận định giá tài sản số 371/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2016, Hội đồng định giá tài sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận:
“a) Đối với túi xách hiệu Samsonite màu đen bị hư dây khóa kéo: Giá trị thiệt hại là 90.000 đồng; b) Đối với 6 tài sản đề nghị định giá ...(02 điện thoại di động N4 8800, 01 chìa khóa xe Camry 3.5, 01 dây chuyền vàng 18k, 01 nhẫn kim cương, 01 mắt kính gọng vàng) thì các tài sản nêu trên không thu giữ được. Đối với tài sản là nhẫn kim cương, dây chuyền vàng 18K, mắt kính gọng vàng không có kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền. Hội đồng không có cơ sở để định giá và từ chối định giá".
Quá trình tố tụng:
1. Ngày 01/9/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 07/QĐ, Quyết định khởi tố bị can số 08/QĐ đối với Nguyễn Thị Mỹ L về tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Ngày 22/8/2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ra Cáo trạng số 54/VKS-P2 truy tố Nguyễn Thị Mỹ L về tội “Cướp tài sản” theo điểm b khoản 4 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Ngày 03/4/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xét xử sơ thẩm, ra Bản án số 17/2017/HSST xử phạt Nguyễn Thị Mỹ L 12 (Mười hai) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm b khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngày 25/9/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm ra Bản án số 498/2017/HS-PT tuyên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 17/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để điều tra, truy tố, xét xử lại.
Ngày 14/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ra Cáo trạng số 06/CT-VKS-P2 tiếp tục truy tố Nguyễn Thị Mỹ L về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngày 02/4/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã xét xử sơ thẩm, ra Bản án số 10/2019/HSST xử phạt Nguyễn Thị Mỹ L 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngày 25/5/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm ra Bản án số 270/2020/HS-PT tuyên hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HSST ngày 02/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để điều tra, truy tố, xét xử lại.
2. Sau khi điều tra lại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B kết luận như sau:
2.1. Về nhận dạng:
Cơ quan điều tra đã tiến hành mời làm việc đối với ông Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn Đ1 là anh, em trai ruột của bị can Nguyễn Thị Mỹ L. Kết quả, ông T4 và ông Đ1 khai không biết việc L cùng nhóm 6 người đàn ông đi cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông T2 vào ngày 31/5/2015 và cũng không liên quan gì đến vụ án.
Cơ quan điều tra đã triệu tập người bị hại Ngô Anh T2, những người làm chứng Vũ Thị N1, Nguyễn Thanh T3, Ngô Thị H, Lê Kim P tổ chức nhận dạng trực tiếp đối với ông Nguyễn Văn T4 và ông Nguyễn Văn Đ1 (bà H và bà P không có mặt). Kết quả nhận dạng trực tiếp: bị hại Ngô Anh T2, những người làm chứng Vũ Thị N1, Nguyễn Thanh T3 đều khẳng định không quen biết và chưa từng gặp ông Nguyễn Văn T4 và ông Nguyễn Văn Đ1.
2.2. Về xác định hành vi của Nguyễn Thị Mỹ L để định tội danh:
Kết quả điều tra, điều tra lại đã xác định: Nguyễn Thị Mỹ L đã thuê taxi, dẫn 06 đối tượng đến nhà ông T2, theo dõi, mục đích lấy lại tiền, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đưa cho ông T2 trước đó. Quá trình diễn ra hành vi phạm tội: Ông T2 bị hai đối tượng khống chế, cầm hai tay ông T2 bẻ quặt ra sau ghì chặt xuống ghế. Một đối tượng dùng tay đánh nhiều cái vào mặt ông T2 gây chảy máu trên mặt, rồi lấy trong người một chai mắm tôm đổ lên đầu ông T2. Thấy ông T2 bị đánh, L và N1 có nói “Đừng có đánh nữa” nhưng L không có hành động gì ngăn cản. Trong lúc ông T2 đang bị khống chế thì L lấy chìa khóa xe ô tô của ông T2 trên mặt bàn rồi cùng một người đàn ông đi ra xe ô tô của ông T2 lấy 02 túi xách mang vào để lên bàn trước mặt ông T2 vẫn đang bị khống chế. Khi ông T2 không cung cấp mã số túi xách Samsonite theo yêu cầu của L mà giằng lấy túi xách ném ra xa thì tiếp tục bị người đàn ông dùng tay đánh nhiều cái vào mặt. L đi nhặt túi xách để lại trên bàn rồi dùng một cây bút mang theo chọc mạnh, phá khóa, mở túi xách lấy 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của L, và số tiền 750 triệu đồng của ông T2.
Như vậy, kết quả điều tra và điều tra lại đã có căn cứ xác định Nguyễn Thị Mỹ L và 6 người đàn ông đã thực hiện hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt số tiền 750 triệu đồng là tài sản hợp pháp của ông Ngô Anh T2. Hành vi của Nguyễn Thị Mỹ L và 06 người đàn ông đã đủ căn cứ xác định đồng phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
3. Về 06 đối tượng đồng phạm với Nguyễn Thị Mỹ L:
Tại Bản án phúc thẩm số 270/2020/HS-PT ngày 25/5/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: Trong vụ án này, có đủ cơ sở để xác định bị cáo L đã cùng 06 đồng phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Việc xác định và làm rõ các đồng phạm có ý nghĩa rất quan trọng cho việc giải quyết đúng đắn, toàn diện và triệt để vụ án. Từ đó, mới có đủ cơ sở xác định chính xác ý chí chủ quan của bị cáo L làm căn cứ cho việc xác định chính xác tội danh đối với bị cáo cũng như các đồng phạm, đồng thời làm rõ có hay không hành vi vượt quá của các đồng phạm này.
Quá trình điều tra lại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định nhập vụ án hình sự số 02/QĐ-VPCQCSĐT ngày 18/3/2021 đối với hành vi của 06 đối tượng đồng phạm với Nguyễn Thị Mỹ L để điều tra. Cơ quan cảnh sát điều tra đã sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ điều tra, truy tìm, đăng lên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đến nay chưa có kết quả.
Ngày 01/7/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 02/QĐ-VPCQCSĐT đối với hành vi của 6 người đàn ông để tiếp tục điều tra truy xét, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
4. Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại Ngô Anh T2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L trả toàn bộ số tài sản mà ông T2 khai đã bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L chiếm đoạt. Qua đánh giá kết quả điều tra nhận thấy ngoài số tiền 750 triệu đồng Nguyễn Thị Mỹ L đã thừa nhận chiếm đoạt của ông T2, đến nay đã thu giữ được 739 triệu đồng, thì Nguyễn Thị Mỹ L chỉ phải tiếp tục bồi thường 11 triệu đồng và thiệt hại do túi xách bị hư hại đã được định giá là 90.000 đồng. Số tài sản và giấy tờ còn lại mà ông T2 yêu cầu không có cơ sở để chấp nhận.
- + Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L yêu cầu ông Ngô Anh T2 trả lại cho bị cáo 3,2 tỷ đồng đã giao cho ông T2. Xét kết quả điều tra và điều tra lại không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Mỹ L.
4. Việc thu giữ và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra đã thu giữ:
- - 739.000.000 đồng (Bảy trăm ba mươi chín triệu đồng); ngày 23/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 2071/QĐ-VPCQCSĐT trao trả số tiền trên cho ông Ngô Anh T2.
- - 05 (Năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị Mỹ L:
- + 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 566412 mang tên ông Phạm Tiến D1 (sinh năm 1970) và bà Lê Thùy L2 (sinh năm 1972) cùng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Tiến D1 và bà Lê Thùy L2 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L;
- + 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 018211 mang tên ông Lê Văn H1 (sinh năm 1962) cùng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trần Trung K (sinh năm 1974) và bà Võ Ngọc N3 (sinh năm 1976) cho bà Nguyễn Thị Mỹ L;
- + 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 433711 mang tên bà Trần Thị Ngọc Y (sinh năm 1969) cùng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Ngọc Y cho bà Nguyễn Thị Mỹ L;
- + 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyến sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 306350 (bản chính) mang tên bà Nguyễn Thị Mỹ L;
- + 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 686938 mang tên ông Mai Văn H2 (sinh năm 1964) và bà Trần Thị Như M (sinh năm 1960), có kèm nội dung thay đổi: chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Mỹ L.
- Ngày 09/10/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2085/QĐ-VPCQCSĐT trả lại 05 (Năm) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L.
- - Đồ vật khác:
- + 01 (Một) ba lô màu đen hiệu Samsonite khóa của các ngăn kéo phía trước bị kẹt, các khóa còn lại bình thường;
- + 01 (Một) túi xách màu đen hiệu Samsonite, trên các móc của dây kéo khóa đóng 01 ổ khóa số màu đen hiệu Samsonite, dây kéo bên trái và dây kéo bên phải của hai ngăn giữa có một chỗ bị hư hỏng;
- + 01 (Một) túi xách hiệu BVLGARI màu trắng, xanh đen (phần trên màu trắng, phần dưới và hai quai màu xanh đen;
- + 01 (Một) chai nhựa bên trong có nước màu nâu, bên ngoài dán nhãn hiệu màu xanh ghi chữ “Trí Hải”.
- Toàn bộ đã được chuyển giao bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 25/8/2016 (bút lục 505, 524).
- - Ngoài ra ông T2 còn giao nộp:
- + 01 (Một) tờ báo Công lý và Xã hội số 99 (400) ra ngày thứ sáu, 09/12/2016 có 24 trang;
- + 01 (Một) bản photocopy sổ hộ khẩu số [...], chủ hộ Ngô Văn C, địa chỉ: Đ, L, L, Đồng Nai;
- + 01 (Một) bản photocopy Biên lai thu tiền lệ phí của Bệnh viện B2 số 0053878 ngày 01/6/2015, tên người nộp tiền Ngô Anh T2;
- + 01 (Một) bản photocopy Biên lai thu tiền lệ phí của Bệnh viện B2 số 0008597 ngày 31/5/2015, tên người nộp tiền Ngô Anh T2;
- + 01 (Một) bản photocopy đơn thuốc ngày 01/6/2015, của Bệnh viện B2, tên người bệnh Ngô Anh T2.
- Các tài liệu này chuyển theo hồ sơ vụ án. (bút lục: 823 - 830)
- + 01 (Một) áo thun màu trắng, ngắn tay có sọc màu cam có in dòng chữ A, đã chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý theo quy định. (bút lục 898).
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
- - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
- - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
- - TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (2)
- - VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (1)
- - Trại tạm giam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2)
- - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; (1)
- - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; (1)
- - Lưu: VP, HS (ĐTM) (5).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian giam giữ từ ngày 14/3/2019 đến ngày 09/7/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L có đơn kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Do bị đe dọa nên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trước đây bị cáo đã khai không đúng sự thật. Bị cáo bị oan, bị cáo không biết 06 người đàn ông đó là ai, tất cả sự việc là do bà Vũ Thị N1 sắp đặt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại trong sạch cho bị cáo.
2. Phần tranh luận
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
2.1.1. Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
2.1.2. Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện: Từ ý định lấy lại tài sản của bị cáo, bị cáo đã nhờ 01 nhóm người để gặp ông T2 và khống chế ông T2. Mục đích là để lấy tiền của ông T2. Xét lời khai của người làm chứng, bị hại phù hợp với thương tích của ông T2, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, phù hợp với diễn biến vụ án. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” như bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan. Bị cáo kháng cáo kêu oan, không thừa nhận hành vi đã bị quy kết nhưng không có tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Đồng thời, tại cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo kháng cáo kêu oan và quanh co chối tội nên đề nghị HĐXX không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Ngoài ra, tòa cấp sơ thẩm xử bị cáo dưới khung nhưng không áp dụng Điều 54 là có thiếu sót. Mức án 12 năm tù là phù hợp nên vẫn giữ mức án 12 năm tù đối với bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng cáo kêu oan của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2.2. Phần đối đáp của Luật sư La Văn T1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L: Lời cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo chưa có đầy đủ chứng cứ buộc tội. Mục đích ban đầu của bị cáo là chỉ muốn lấy lại tài sản của bị cáo đang góp vốn cho ông T2. Nếu bị cáo có mục đích cướp tài sản, tại sao không cướp ở nhà mà phải ra quán cà phê là nơi công cộng. Tại thời điểm ở quán cà phê, bị cáo không dùng vũ lực mà là 06 người đàn ông tự ý đánh và đổ mắm lên người ông T2. Vì bất ngờ và là phụ nữ nên bị cáo không ngăn cản được. Trong vụ án này, bị cáo bị quy kết phạm tội “Cướp tài sản” nhưng chưa làm rõ hành vi của những người đàn ông (đồng phạm). Do đó, để làm sáng tỏ, giải quyết triệt để vụ án đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại.
2.3. Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa giữ nguyên quan điểm đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo bị oan, bị cáo không biết những người đàn ông đó. Vì do bị cáo bị đe dọa nên mới khai sai sự thật lúc đầu. Bị cáo xin chịu trước tòa về toàn bộ lời khai của mình tại tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L đã thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không phạm tội cướp tài sản và đình chỉ giải quyết vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L thay đổi lời khai cho rằng nhóm 06 người đàn ông là do bà Vũ Thị N1 (người làm chứng) kêu đến. Cụ thể bị cáo khai diễn biến trước khi đi gặp ông T2 như sau: Sáng ngày 31/5/2015, bà N1 rủ bị cáo đến nhà ông T2 nhưng không gặp ông T2. Sau đó chồng bà N1 qua chở bị cáo đến quán cà phê với vợ chồng bà N1 (bị cáo khai chồng bà N1 tên M1) tại một quán cà phê, tại đây bị cáo đi vệ sinh, sau khi đi vệ sinh ra thì bị cáo không thấy bà N1 mà chỉ còn thấy chồng bà N1 và thấy có thêm 06 người đàn ông. Rồi chồng bà N1 chở bị cáo 06 người đàn ông đi qua quán cà phê mà ông T2 đang ngồi. Bị cáo khai sau khi ông Trung tố G bị cướp tài sản thì bà N1 có đe dọa, không cho bị cáo L khai ra việc 06 người đàn ông trên là do bà N1 kêu đến, nên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trước đây bị cáo đã khai không đúng sự thật.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án, không phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cũng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Bị cáo thay đổi lời khai nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Hành vi phạm tội của bị cáo và quá trình điều tra, truy tố, xét xử từ năm 2015 đến nay đã kéo hơn 09 năm, qua nhiều lần điều tra bổ sung, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đều thống nhất lời khai về quá trình bị cáo nói chuyện với người đàn ông gặp tại Chùa B1, rồi sau đó bắt taxi cùng 06 người đi tìm ông T2 như sau:
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 31/5/2015 (BL 29), bị cáo L khai: “Sáng nay ngày 31/05/2015, tôi đi viếng chùa B1 ở xã T, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi vào chùa, tôi nghĩ đến chuyện tiền đã đưa cho T2 nhưng T2 không trả lại nên tôi buồn và ngồi khóc. Tại đây, tôi gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi. Ông ta hỏi tại sao tôi khóc. Tôi kể lại toàn bộ sự việc tôi đưa tiền cho T2 cho ông ta nghe. Ông ta nói để ông ta đi cùng tôi tìm gặp T2 để đòi lại tiền.
Sau đó, ông ta rủ thêm 05 người thanh niên nữa đi cùng tôi và ông ta. Chúng tôi gọi một xe taxi loại 07 chỗ ngồi đi lên nhà T2 tại huyện L, tỉnh Đồng Nai. Khi đến nhà T2 thì xe taxi của tôi đậu phía trước chờ T2 về. Lát sau, tôi thấy T2 điều khiển xe ô tô TOYOTA camry màu đen từ nhà đi ra. Tôi kêu tài xế taxi chạy theo xe T6. Xe T2 chạy theo QL51 theo hướng xuống P, huyện T. Tôi thấy xe T2 đi vào quán cà phê tên “Lotus” ở thị trấn P. T2 xuống xe đi vào quán. Tôi cũng những người đi cùng vào đến chỗ T2 đang ngồi. Lúc này T2 đang uống nước với chị N1 (nhà ở Vũng Tàu. Tôi cũng quen với chị N1).”
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 15/7/2015 (BL 26), bị cáo khai: “Tôi và chị N1 là chỗ quen biết lâu nay do trước đây tôi và chị N1 cùng làm chung một công ty, tôi và chị N1 không hợp tác làm ăn gì với nhau, những người đàn ông đi cùng tôi và chị N1 không quen biết gì nhau”.
Các lời khai sau đó của bị cáo L đều thể hiện quá trình gặp 06 người đàn ông và đi tìm ông T2 như trên. Quá trình điều tra vụ án, truy tố, xét xử, người làm chứng là bà Vũ Thị N1 khai không quen biết 06 người đàn ông đi cùng bị cáo L, không biết lý do bị cáo L đến tìm ông T2, không biết về mâu thuẫn giữa bị cáo L với bị hại T2.
Mặt khác, bị cáo L khai bà N1 bắt bị cáo đi cùng 06 người đàn ông tìm gặp ông T2, bị cáo không biết lý do bà N1 kêu 06 người đàn ông tới. Trong khi đó thực tế diễn biến vụ án cho thấy 06 người đàn ông đi cùng bị cáo L gặp ông T2 để yêu cầu ông T2 trả cho bị cáo L giấy tờ đất và khoản tiền mà bị cáo L cho rằng bị hại T2 nợ bị cáo L, sau đó bị cáo L trực tiếp lấy được 750.000.000 đồng và yêu cầu ông T2 ký nhận nợ bị cáo số tiền còn lại. Do đó, bị cáo khai bà N1 bắt bị cáo đi gặp bị hại T2 là không phù hợp.
Bị cáo khai bị cáo bị vợ chồng bà N1 đe dọa, ép bị cáo không được khai ra sự thật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án có thời điểm bị cáo tại ngoại, có thời điểm bị cáo bị tạm giam (bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/3/2019 đến ngày 09/7/2020, trong giai đoạn tòa án xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lần 2) thì bị cáo cũng không thay đổi lời khai về quá trình gặp 06 người đàn ông và đi tìm ông T2 như đã khai trước đó, không khai việc vợ chồng bà N1 đe dọa kêu người tấn công bị cáo như bị cáo trình bày tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, bị cáo cho rằng bị cáo bị vợ chồng bà N1 đe dọa, nói sẽ cho người tấn công bị cáo là không phù hợp và không có căn cứ chứng minh.
Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.
[2.2] Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo L
Bị cáo L cho rằng bị cáo không phạm tội “Cướp tài sản”, bị cáo không bàn bạc, không thỏa thuận với 06 người đàn ông về việc đánh ông T2 để chiếm đoạt tài sản, mà những người đàn ông đi cùng bị cáo đã tự ý đánh và đổ mắm lên người bị hại T2, bị cáo không ngăn cản được.
Xét thấy, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Ngày 25/5/2015, Nguyễn Thị Mỹ L và ông Ngô Anh T2 thỏa thuận, lập và ký giấy “Cam kết nhận góp vốn trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “Giấy xác nhận” trong việc góp vốn kinh doanh, làm thủ tục chuyển nhượng đất nhưng hai bên không thực hiện đúng các nội dung đã ký kết, dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp về tiền bạc, giấy tờ đất đai mà hai bên đã giao cho nhau nhưng không có giấy tờ chứng minh.
Khoảng 08h00' phút ngày 31/5/2015 tại xã T, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, L kể lại sự việc bị ông T2 chiếm đoạt tiền và giấy tờ đất cho một người đàn ông (L khai không rõ lai lịch) thì người đàn ông nói sẽ giúp L lấy lại tiền, giấy tờ đất từ ông T2, L đồng ý. Người đàn ông này gọi thêm 05 (Năm) người đàn ông khác đến cùng đi. Khoảng 11h00' cùng ngày, L thuê xe taxi 7 chỗ (không rõ loại xe, biển số xe, hãng taxi, tài xế) chở L cùng 06 người đàn ông đi từ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến nhà ông T2 ở ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo dõi, canh chừng. Khi thấy ông T2 điều khiển xe ô tô biển số 60A–003.59 ra khỏi nhà, L yêu cầu taxi chạy theo xe ông T2 từ Đồng Nai đến quán C1, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khoảng hơn 13h00' cùng ngày, khi ông T2 và bà Vũ Thị N1 (bạn của ông T2 và L) đang ngồi trong quán cà phê Resort L3 thì L cùng nhóm đàn ông đến khống chế ông T2, bẻ quặt hai tay ra sau ghì chặt xuống ghế, dùng tay đánh nhiều cái vào mặt ông T2 chảy máu gây thương tích với tỷ lệ thương tật 01%, rồi dùng chai mắm tôm đổ lên đầu ông T2 làm cho ông T2 không thể kháng cự được; còn L lấy chìa khóa mở khóa xe ô tô biển số 60A-003.59 của ông T2 lấy 02 (hai) túi xách hiệu Samsonite và BVLGARI, dùng cây bút phá hỏng 01 (một) dây kéo khóa túi xách hiệu Samsonite trị giá 90.000 đồng để lục tìm chiếm đoạt số tiền 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) của ông T2.
Như vậy, bị cáo đã cùng 06 người đàn ông khác (đến nay bị cáo không cung cấp họ tên, địa chỉ những người này và ngoài bị cáo ra thì không ai biết rõ hơn về nhân thân, lai lịch những người đàn ông này) theo dõi, bám theo, tìm gặp ông T2. Sau đó những người đàn ông đi cùng bị cáo đã dùng vũ lực và số đông người khống chế, áp đảo khiến ông T2 bị tê liệt ý chí phản kháng. Bị cáo L lấy được tiền của bị hại T2 diễn ra khi những người đàn ông trên dùng vũ lực, khống chế bị hại, là điều kiện để bị cáo lấy được 750.000.000 đồng (B trăm năm mươi triệu đồng) không theo ý chí tự nguyện và quyết định của bị hại.
Bị cáo nhận thức được việc lấy tài sản của bị hại khi những người đàn ông đi cùng dùng vũ lực và số đông người khống chế, áp đảo khiến bị hại tê liệt ý chí phản kháng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.
Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo L.
[2.3] Với hành vi và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phạm tội “Cướp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm ngày 31/5/2015, khi Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực thi hành. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo L theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về việc áp dụng điều khoản có lợi hơn cho bị cáo so với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
[3] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo L, xem xét bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã tự nguyện trả lại tài sản chiếm đoạt, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả tội phạm, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; từ đó xử phạt bị cáo L 12 (mười hai) năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo L thực hiện.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm về việc bị cáo L không thành khẩn tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi lời khai nhưng không có chứng cứ chứng minh cho lời khai mới của mình. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo về diễn biến vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo; sau khi tòa án xét xử sơ thẩm, bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo L là có cơ sở chấp nhận.
[4] Trên đây là lập luận của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đối với quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, cũng như lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian giam giữ từ ngày 14/3/2019 đến ngày 09/7/2020.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Chung Văn K1 – Nguyễn Thị Thanh | Vũ Đức T5 |
Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
Bản án số 1133/2024/HS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (cướp tài sản)
- Số bản án: 1133/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
