|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1131/2025/DS-ST
Ngày: 30/6/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Quốc Hưng;
2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức: Ông Phạm Quốc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 278/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4916/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 5557/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Trụ sở: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thạch T, sinh năm 1999 (Văn bản ủy quyền số 9011/2024/UQ-TGĐ ngày 05/12/2024).
2. Bị đơn: Bà Trịnh Huy Bảo N, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số I, Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tại phiên tòa bà Vũ Thị Thạch T có đơn xin vắng mặt, bà Trịnh Huy Bảo N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S có đại diện theo uỷ quyền bà Vũ Thị Thạch T trình bày:
Ngày 11/5/2018, bà Trịnh Huy Bảo N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà N với nội dung: Loại thẻ là JCB Credit - VTDsố thẻ MERGEFIELD SO_THE 356480 - 0862hạn mức sử dụng là 47.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn là 1.38%/tháng và lãi suất quá hạn là 2.08%/tháng (lãi suất trong hạn x 150%). Ngoài ra, lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau theo quy định của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 75.722.210 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 61.922.515 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Ngân hàng TMCP S đã tiến hành liên hệ đề nghị bà Trịnh Huy Bảo N thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Ngân hàng TMCP S cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà Trịnh Huy Bảo N biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nhưng bà N vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Ngân hàng. Tính đến ngày 30/6/2025, bà Trịnh Huy Bảo N còn nợ các khoản sau: Nợ gốc là 37.332.485đồng và lãi quá hạn là 22.785.588đồng, tổng cộng: 60.118.073đồng.
Do đó, Ngân hàng TMCP S đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên buộc bà Trịnh Huy Bảo N thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 30/6/2025 là: 60.118.073đồng. Trong đó: Dư quá hạn: 37.332.485đồng; Số tiền lãi quá hạn: 22.785.588 đồng. Ngoài ra, bà Trịnh Huy Bảo N còn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/7/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng vay đã ký.
Bị đơn – bà Trịnh Huy Bảo N đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của bà N đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Ngân hàng có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai của mình phía Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Trịnh Huy Bảo N phải có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền nợ tính đến ngày xét xử là 60.118.073 (Sáu mươi triệu, một trăm mười tám nghìn, không trăm bảy mươi ba) đồng, trong đó: Nợ gốc là 37.332.485, tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 22.785.588 đồng.
Bị đơn – bà Trịnh Huy Bảo N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) khởi kiện bà Trịnh Huy Bảo N yêu cầu bà N phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – bà Trịnh Huy Bảo N có địa chỉ cư trú ghi trên hợp đồng khi xác lập giao dịch vay tài sản tại thành phố T nên theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Trịnh Huy Bảo N vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ trong hợp đồng là đúng quy định theo điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Căn cứ vào kết quả của Công văn xác minh cư trú số 1820/TATĐ ngày 21/3/2025, Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời như sau: “Bà Trịnh Huy Bảo N– Sn 1987, có đăng ký HKTT tại số I, Đ, phường P, thành phố T. Hiện nay bà N cùng gia đình đã không còn cư trú tại địa phương từ tháng 5/2023 cho đến nay nhưng không thông báo với cơ quan công an”. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Trịnh Huy Bảo N tại địa chỉ trên nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S có đại diện theo uỷ quyền là bà Vũ Thị Thạch T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Huy Bảo N trả tổng số tiền nợ là 60.118.073(Sáu mươi triệu, một trăm mười tám nghìn, không trăm bảy mươi ba) đồng, trong đó: Nợ gốc là 37.332.485 đồng, tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là MERGEFIELD LAI 22.785.588đồng. Ngoài ra, bà Trịnh Huy Bảo N còn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/7/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng vay đã ký. Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Xét yêu cầu về tiền nợ gốc: Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Trịnh Huy Bảo N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc tính đến ngày 30/6/2025 là 33.367.768 (Ba mươi ba triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm sáu mươi tám) đồng. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng tín dụng ngày 11/5/2018 của bà Trịnh Huy Bảo N, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng là Loại thẻ là JCB Credit - VTDsố thẻ MERGEFIELD SO THE 356480 - 0862hạn mức sử dụng là 47.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân và lãi suất là 1,38%/tháng (lãi suất trong hạn). Ngoài ra, lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau theo quy định của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Các thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, Bản tóm tắt sao kê ngày 30/6/2025, căn cứ vào hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng của bị đơn để xác định bị đơn đã nhận thẻ và thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 75.722.210 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ khi kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 61.922.515 đồng.
Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 02 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực ngày 15/8/2016), ngày 26/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 37.332.485đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Tính đến ngày 30/6/2025, bà Trịnh Huy Bảo N còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc là 37.332.485 đồng; Lãi quá hạn là 22.785.588Tổng cộng MERGEFIELD TONG_DN 60.118.073đồng. Xét số tiền nợ gốc Ngân hàng yêu cầu bà Trịnh Huy Bảo N thanh toán là đúng với thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Xét số tiền nợ gốc Ngân hàng yêu cầu bà N thanh toán là 37.332.485 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Xét yêu cầu về tiền lãi: Lãi suất trong hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 11/5/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng giữa bà N và Ngân hàng TMCP S của Ngân hàng là 1.38%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn, được công bố và áp dụng tại thời điểm điều chỉnh khi đến kỳ điều chỉnh lãi suất theo quy định của Ngân hàng TMCP S. Ngân hàng yêu cầu thanh toán là phù hợp với Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Trung tâm thẻ về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng; Mục 23, 25 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Lãi suất được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ”; Mục 1.24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định: “lãi suất cho vay mà S1 áp dụng đối với các khoản vay thông qua phát hành thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn....Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất do S1 công bố trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn”;
Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng xác lập ngày 11/5/2018, bà Trịnh Huy Bảo N cam kết: “Tôi/chúng tôi xác nhận rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều Khoản và Điều Kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1 ...”.
Ngoài ra, trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, bà N đã được tống đạt hợp lệ đến tòa để trình bày lời khai và hòa giải về số tiền nêu trên nhưng bà N không đến tòa là không tôn trọng quy định của pháp luật đồng thời tự từ bỏ quyền được trình bày ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét tài liệu do phía Ngân hàng cung cấp.
Như vậy, lãi suất được Ngân hàng TMCP S sử dụng để tính lãi đối với khoản nợ của bà Trịnh Huy Bảo N tính đến ngày 30/6/2025 với số tiền lãi 22.785.588(Hai mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn, năm trăm tám mươi tám) đồng là phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc bà Trịnh Huy Bảo N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến hết ngày 30/6/2025, bà N còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc là 37.332.485 đồng; Lãi quá hạn là 22.785.588đồng. Tổng cộng 60.118.073(Sáu mươi triệu, một trăm mười tám nghìn, không trăm bảy mươi ba) đồng.
Bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[4] Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Bà Trịnh Huy Bảo N phải chịu án phí là 3.005.904 (Ba triệu không trăm lẻ năm ngàn chín trăm lẻ bốn) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.387.345 (Một triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, ba trăm bốn mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0080381 ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ- HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo;
- Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:
Buộc bà Trịnh Huy Bảo N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 30/6/2025 là 60.118.073(Sáu mươi triệu, một trăm mười tám nghìn, không trăm bảy mươi ba) đồng, trong đó: Nợ gốc là 37.332.485 đồng; Nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử là 33.367.768 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trịnh Huy Bảo N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các bên thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trịnh Huy Bảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.005.904 (Ba triệu, không trăm lẻ năm ngàn, chín trăm lẻ bốn) đồng. Bà Trịnh Huy Bảo N chưa nộp án phí.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP S là 1.387.345 (Một triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, ba trăm bốn mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0080381 ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S (S1) và bà Trịnh Huy Bảo N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Hà |
Bản án số 1131/2025/DS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1131/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S kiện Bà Trịnh Huy Bảo Ngọc về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
