|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 1130/2023/HNGĐ-PT Ngày: 05/12/2023 V/v: Tranh chấp về ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Bích Loan
Ông Phan Trịnh Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa.
Vào ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2023/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 399/2023/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4676/2023/QĐ-PT ngày 10/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14907/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 07/11/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hồ Thanh M, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Bà Nguyễn Phan Hiền A, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: C N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Phan Hiền A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/01/2023 và các bản tự khai, nguyên đơn – ông Hồ Thanh M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Thanh M và bà Nguyễn Phan Hiền A là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2021. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trong đời sống sinh hoạt, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ. Mặc dù cả hai đã tự hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không thành, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Nay, ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Hiền A để ổn định cuộc sống.
- Về việc nuôi con: Có 01 con chung tên Hồ Minh Q, sinh ngày 13/01/2022. Do con còn nhỏ nên ông M yêu cầu giao con cho bà Hiền A được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn. Tại đơn khởi kiện ông M đồng ý cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên bà Hiền A không yêu cầu thì ông sẽ tự thực hiện việc cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, bị đơn – bà Nguyễn Phan Hiền A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phan Hiền A và ông Hồ Thanh M là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, TP. cấp ngày 08/12/2021. Trong thời gian chung sống đến khi có con thì bà Hiền A luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ nuôi dưỡng và chăm sóc con, bà không có bất kỳ hành vi nào vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, về phần ông M đã không làm tròn nghĩa vụ của một người chồng, người cha, cụ thể sau khi con bà được khoảng 2 tháng tuổi, ông M nhiều lần có những hoạt động vui chơi giải trí trái với thuần phong mỹ tục, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều lệ công tác của ngành nghề mình, từ ngày bà phát hiện sự việc thì ông M đã bỏ bê trách nhiệm của bản thân, không chăm sóc con mà chỉ gửi tiền theo tháng, có thời điểm còn có ý định từ chối gửi tiền, mỗi tháng gặp con được 2 lần, ông M đã chủ động ly thân, chặn số điện thoại của bà Hiền A và không tiếp xúc với bà trong một năm qua, việc này làm bà tổn thương tâm lý nghiêm trọng, tuy vậy nhưng ông M có yêu cầu được hàn gắn nhưng được khoảng 1 tuần, chỉ vì bất đồng nhỏ lại bỏ đi khỏi nhà cho đến nay, điều này dẫn tới sự mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn. Tuy nhiên, hiện nay do con còn nhỏ nên bà không đồng ý ly hôn để khắc phục mâu thuẫn, cùng nhau chung sống nuôi dạy con.
- Về việc nuôi con: Có 01 con chung tên Hồ Minh Q, sinh ngày 13/01/2022. Do con còn nhỏ nên bà không đồng ý ly hôn để cố gắng hàn gắn, cùng nhau chung sống nuôi dạy con, không yêu cầu về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Do không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 399/2023/HNGĐ-ST ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
“Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 200, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thanh M:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Thanh M được ly hôn với bà Nguyễn Phan Hiền A.
(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2021)
1.2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Hồ Minh Q, sinh ngày 13/01/2022 cho bà Nguyễn Phan Hiền A được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.
Về cấp dương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.”
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.
Ngày 03/7/2023, bà Nguyễn Phan Hiền A kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Nguyên đơn – ông Hồ Thanh M trình bày: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Bị đơn – bà Nguyễn Phan Hiền A trình bày: Bà thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn từ phía chồng, nguyên nhân do chồng thường xuyên đi qua đêm, chưa có trách nhiệm với con cái, do con còn nhỏ cần có đủ cả cha và mẹ nên bà không đồng ý ly hôn, do đó giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thời hạn kháng cáo: Kháng cáo của bà A làm đúng thời hạn luật định.
- Về nội dung kháng cáo: Bà A không đồng ý ly hôn vì con vẫn còn nhỏ muốn con có cha mẹ đầy đủ, tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay bà A thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, cũng đã sống ly thân từ tháng 2/2023 đến nay. Vì vậy có căn cứ để chứng tỏ giữa ông M và bà A tình cảm đã không còn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, yêu cầu xin ly hôn của ông M là có cơ sở; như vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử cho ly hôn là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về việc nuôi con: Có 01 con chung tên Hồ Minh Q, sinh ngày 13/01/2022, trẻ Q sinh năm 2022 còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và hiện đang sống với mẹ. Do đó để đảm bảo ổn định môi trường sống và tâm lý của trẻ nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao trẻ Q cho bà A nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Cấp dưỡng nuôi con: Ông M đồng ý mức cấp dưỡng 5.000.000đồng/tháng. Xét thấy: Tại Tòa án cấp sơ thẩm bà A không yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà A kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bà A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà A phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Phan Hiền A làm trong thời hạn luật định.
[2] Nội dung kháng cáo:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 59 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2021 thì quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông M là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ lời khai của ông M thì trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề, đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Phía bà A cũng xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn, mặc dù không còn tình cảm với ông M nhưng do còn còn nhỏ mong muốn con được phát triển tốt và chưa đi đến thỏa thuận về tài sản chung nên không đồng ý ly hôn (BL 42, 52).
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng ông M bà A đã trầm trọng, việc hòa giải đoàn tụ không có kết quả, bà A không có
phương án để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của ông M về việc xin ly hôn với bà A là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bà A không nộp thêm tài liệu, chứng cứ gì, không có biện pháp gì để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà A.
[2.2] Về việc nuôi con: Căn cứ Bản sao Giấy khai sinh số 165 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 15/3/2022 thì trẻ Hồ Minh Q, sinh ngày 13/01/2022 là con của ông Hồ Thanh M và bà Nguyễn Phan Hiền A.
Xét thấy, bà A ông M đều có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung, từ khi trẻ Q được sinh ra thì do bà A ông M cùng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì bà A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và trẻ Q được nuôi dưỡng phát triển tốt. Trẻ Quang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc của người mẹ và trẻ đang sinh sống ổn định cùng với mẹ, nên để đảm bảo ổn định môi trường sống, tâm lý của trẻ, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định giao con cho bà A trực tiếp nuôi là có căn cứ, đúng pháp luật.
Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên bà Nguyễn Phan Hiền A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Phan Hiền A.
1. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 399/2023/HNGĐ-
ST ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Thanh M được ly hôn với bà Nguyễn Phan Hiền A.
1.2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Hồ Minh Q, sinh ngày 13/01/2022 cho bà Nguyễn Phan Hiền A được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hồ Thanh M phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0015668 ngày 16/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hồ Thanh M đã nộp đủ.
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Phan Hiền A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0037050 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Phan Hiền A đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Đặng Thị Bích Loan |
Phan Trịnh Minh Đức |
Quách Thanh Bình |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |
7
8
Bản án số 1130/2023/HNGĐ-PT ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 1130/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYÊN ĐƠN HỒ THANH M KHỞI KIỆN YÊU CẦU TÒA ÁN LY HÔN BÀ NGUYỄN PHAN HIỀN A
