TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1130/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 12 - 2024 “V/v Ly hôn giữa chị Hương và anh Lượng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Bình
Bà Trần Thị Phối
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 832/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/11/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo H, sinh năm 2001
Địa chỉ: Tổ A, khu V, phường B, thành phố Q, Bình Định.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ D, khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Tại phiên toà các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thanh L đăng ký kết hôn vào ngày 15/5/2023 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường nhưng đến khoảng tháng 3/2024 vợ chồng bất đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do cả hai bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh L thường xuyên dùng những lời lẽ chửi bới, xúc phạm chị. Nay chị nhận thấy tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn anh L.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung không yêu cầu Toà giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thanh L đến Toà nhưng từ chối khai báo, không ký vào biên bản làm việc của Toà.
Tại phiên toà, anh L có mặt trình bày: Anh thống nhất về thời gian, điều kiện kết hôn như chị H trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do không phù hợp về tính cách, quan điểm sống. Hiện nay anh không còn tình cảm, trách nhiệm gì với chị H, anh không muốn kéo dài cuộc hôn nhân với chị H nhưng vì giữa anh và chị H chưa thoả thuận, giải quyết xong vấn đề vàng cưới nên anh không đồng ý ly hôn chị H.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án mà vợ chồng tự thỏa thuận, giải quyết về tài sản chung.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về việc giải quyết vụ án đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bảo H được ly hôn anh Nguyễn Thanh L; về con chung, tài sản chung: Không xem xét; Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo H với bị đơn anh Nguyễn Thanh L là tranh chấp về Ly hôn. Anh L cư trú tại Tổ D, khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn.
- Chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Thanh L tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 042/2023 ngày 15/5/2023 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường nhưng đến khoảng tháng 3/2024 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H trình bày do cả hai bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh L thường xuyên dùng những lời lẽ chửi bới, xúc phạm chị. Nay chị nhận thấy tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn anh L. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh L đến Toà nhưng từ chối khai báo, không ký vào biên bản làm việc của Toà, gây khó khăn cho quá trình thu thập chứng cứ của Toà. Tại phiên toà, anh L cho rằng hiện nay anh không còn tình cảm, trách nhiệm gì với chị H, anh không muốn kéo dài cuộc hôn nhân với chị H nhưng vì anh với chị H chưa giải quyết xong vấn đề vàng cưới nên anh không đồng ý ly hôn. HĐXX thấy rằng, mâu thuẫn giữa chị H, anh L là trầm trọng, tình cảm giữa chị H, anh L thực sự không còn, khả năng hàn gắn là điều không thể, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bị đơn anh L không đồng ý ly hôn với chị H chỉ nhằm mục đích kéo dài thời gian gây đau khổ cho cả hai, vì vậy căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về tài sản chung: Tại phiên toà các đương sự thống nhất tự thoả thuận giải quyết về tài sản chung, không yêu cầu Toà giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị H phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST.
- Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Thanh L.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bảo H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí HNGĐ-ST được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị Bảo H đã nộp theo biên lai số 0000481 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn (chị H đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Định |
Bản án số 1130/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 1130/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Bảo H ly hôn Anh Nguyễn Thanh L
