Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Danh.

2. Bà Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 12/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ V, sinh năm: 1992 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm: 1950 và bà Lê Thị Đ, sinh năm: 1953; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị bắt tạm giam ngày 29-01-2024 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1976 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số A, ấp E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Số nhà B đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vũ L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (hàng đá - Methamphetamine). Ngày 29-01-2024, K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc và nhờ L đến khu vực Vòng xoay A, thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương để lấy giấy tờ mang đến thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giao cho một người bạn giúp K. Sau khi giao xong, sẽ được K trả tiền công 1.000.000 đồng, L đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển số 83PT-323.70 nhãn hiệu Daelimkea màu xanh bạc (xe do bà Nguyễn Thị Kim O đứng tên trên giấy đăng ký) đến điểm hẹn. Khi đến nơi không gặp K mà gặp một người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) giới thiệu là em của K rồi đưa cho L một cái túi nylon màu đen. Sau khi nhận túi, L sờ vào nghi ngờ là ma tuý đá (do đã sử dụng loại ma tuý này) nên điện thoại hỏi là gì K vẫn nói giấy tờ và sau khi giao xong không phải lấy tiền. Sau khi điện thoại cho K xong, nhận thức rõ gói hàng là ma tuý nhưng do cần tiền nên L vẫn đồng ý đi giao giúp.

Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, L đến thành phố B rồi điện thoại cho K biết, K nói tìm nhà nghỉ chờ rồi báo địa chỉ để nói người đến lấy. Sau đó, L đến thuê phòng số 102, nhà nghỉ “Vân Châu” thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu rồi gọi điện cho K biết địa điểm. Trong lúc ngồi chờ, L mở túi nylon ra xem thì thấy bên trong có 01 gói ma túy đá, L lấy gói ma túy bỏ trên bàn trong phòng nhà nghỉ.

Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an thị trấn L, huyện L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang L đang cất giấu số ma túy nói trên. Đồng thời, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa V về trụ sở cơ quan làm việc. Sau đó, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B chuyển giao L cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L điều tra theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Nguyễn Vũ L khai nhận gói ma túy bị phát hiện thu giữ là của K nhờ vận chuyển từ tỉnh Bình Dương đến thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giao cho người khác theo yêu cầu của K và được trả tiền công 1.000.000 đồng.

Tại Quyết định trưng cầu giám định số 127/QĐ-CSMT ngày 30-01-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B yêu cầu Phòng K1 Công an tỉnh B – Vũng giám định:

“...1. Mẫu cần giám định:

01 (Một)gói nylon màu trắng hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu – trong suốt, được niêm phong trong phong bì màu trắng, đánh số thứ tự 01/PC04, có hình dấu của Công an thị trấn L, tỉnh BR-VT, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Huỳnh Công H, Mai Công B, Chu Sĩ B1, Mai Thúy D, Nguyễn Vũ L.

...

Mẫu gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? ..."

Tại Bản kết luận giám định số 148/KL-KTHS-MT ngày 02-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

“Mẫu A có khối lượng 19,6195 gam, là ma túy, loại Methamphetamine...”

Vật chứng thu giữ và xử lý:

+ 01 xe mô tô biển số 83PT-323.70 nhãn hiệu Daelimkea màu xanh bạc do bà Nguyễn Thị Kim O (chị ruột của L) đứng tên trên giấy đăng ký xe. Bà O cho mượn làm phương tiện đi lại, nhưng không biết L sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu.

+ 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 148 ngày 02-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 điện thoại di động Vivo màu xám và 500.000 đồng. Hiện đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.

Đối với người đàn ông tên K, người thanh niên giao ma túy cho V và người nhận ma túy, Cơ quan Cảnh sat điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 113/CT-VKSLĐ ngày 26-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Vũ V về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ V phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy",

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 148 ngày 02-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Vivo màu xám
  • - Trả lại cho bị cáo 500.000 đồng.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim O vắng mặt, nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định nội dung vụ án như sau: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 29-01-2024, tại phòng số 102, nhà nghỉ “Vân Châu” thuộc C12, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an thị trấn L, huyện L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Vũ V đang có hành vi cất giấu trái phép 19,6195 gam, ma túy loại Methamphetamine. Nguồn gốc ma túy là của một người đàn ông tên K thuê vận chuyển từ tỉnh Bình Dương về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để giao cho người khác với giá 1.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại khoản b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, với gia đình và xã hội, biết rõ bị nghiêm cấm tất cả các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, lẽ ra phải cùng cộng đồng chung sức ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn này khỏi đời sống xã hội, nhưng vì hám lợi mà tiếp tay cho ma túy lan rộng cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác là cố ý thực hiện tội phạm.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Từ những nhận định và phân tích nói trên, cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ cho bị cáo sửa chữa cũng như răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù đủ sức răn đe giáo dục nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma túy, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 148 ngày 02-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B là đối tượng cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với 01 điện thoại di động Vivo màu xám là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước,

[8.3] Đối với số tiền 500.000 đồng là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ V phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”,

    Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ V 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29-01-2024.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma túy, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 148 ngày 02-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
    2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Vivo màu xám.
    3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Vũ L 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

    (Vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản theo Biên bản giao nhận vật chứng số 106/BB-CCTHADS ngày 26-6-2024 và Biên lai thu tiền số 0002178 ngày 28-5-2024).

  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn V1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Tuyên bố kết thúc phiên tòa: Tôi tuyên bố kết thúc phiên tòa; (giao bị cáo cho các đồng chí Cảnh sát hỗ trợ tư pháp quản lý); mời mọi người nghỉ!

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - CCTHA dân sự huyện Long Điền;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 29-01-2024, tại phòng số 102, nhà nghỉ “Vân Châu” thuộc C12, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp cùng Công an thị trấn L, huyện L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Vũ V đang có hành vi cất giấu trái phép 19,6195 gam, ma túy loại Methamphetamine. Nguồn gốc ma túy là của một người đàn ông tên K thuê vận chuyển từ tỉnh Bình Dương về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để giao cho người khác với giá 1.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger