| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2024/HS-ST | |
| Ngày: 30-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Tuyết
Ông Phạm Duy Bảo
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Minh N, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1995 tại: Bình Dương; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 158 N, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Minh V; con bà: Nguyễn Thị V1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Thanh H, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1981 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 010 lô J, chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 032 lô E, chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1; con bà: Nguyễn Thị Kim T; Có chồng tên Trần Văn N1 (đã chết); Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1955; Nơi cư trú: 032 lô E, chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: 1 B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút, ngày 19/01/2024 tại trước địa chỉ số B L, Phường D, Quận E, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an Q phát hiện Nguyễn Thanh H đang dừng, đậu xe môtô, biển kiểm soát 59D1-375.88 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Trong khi kiểm tra, H tự nguyện lấy trong túi quần trước, bên phải quần H đang mặc trên người giao nộp cho Tổ công tác 01 gói nylon màu đen bên trong có chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa. H khai nhận tinh thể không màu là ma túy H cất giữ với mục đích để sử dụng và bán khi có người mua, số ma túy trên do Trần Minh N đưa cho H cất giữ. Do đó, Tổ Công tác đưa H cùng vật chứng, phương tiện về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang, sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận E để điều tra theo thẩm quyền.
Mở rộng điều tra, vào khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 19/01/2024, tại trước địa chỉ số B N, Phường A, Quận C, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an Q tiến hành kiểm tra Trần Minh N. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên trong ba lô màu đen N đang đeo trên người có 01 hộp kim loại màu xanh bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, N khai nhận là ma túy, N cất giữ nhằm bán lại khi có người mua. N khai có quan hệ bạn bè với Nguyễn Thanh H. Ngày 18/01/2024, N đến nhà H tại địa chỉ C Lô E, chung cư N, Phường A, Quận C để đưa ma túy cho H. Ngày 19/01/2024, N yêu cầu H lấy ma túy và bổ sung dụng ma túy bán cho người mua tại trước địa chỉ số B L, Phường D, Quận E thì bị phát hiện, bắt giữ như trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thanh H và Trần Minh N khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 18/01/2024, N liên hệ với 01 người (không rõ nhân thân, lai lịch) ở đường H, Quận A để đặt mua 50 số ma tuý với giá 2.000.000 đồng, người này đồng ý và giao cho N 01 vỏ chai nước hoa bên trong có 01 gói nylon chứa 50 số ma túy, sau khi nhận ma túy N đi về nhà tại Bình Dương. Đến khoảng khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, N đi xe ôm từ địa chỉ 158 N, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến nhà H tại địa chỉ C Lô E, chung cư N, Phường A, Quận C rồi phân chia và đưa cho H khoảng 25 số ma túy, với mục đích để H sử dụng và bán lại cho khách của N khi có yêu cầu, H đồng ý và nhận 01 gói nylon chứa ma tuý đựng ống hút nhựa phần chia thành 01 gói lớn và 04 gói nhỏ rồi cất vào vỏ bao thuốc 555 cất giấu trong nhà. Sau đó, N lấy 01 gói nylon chứa số ma tuý còn lại đem cất giấu trong 01 hộp kim loại màu xanh bỏ vào trong ba lô màu đen đem về nhà tại địa chỉ A N, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 19/01/2024, có 01 đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên "Ban F" liên hệ với N theo tài khoản "Kelvin Tran" để đặt mua 12 số ma túy với giá tiền 700.000 đồng và 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh với giá tiền là 100.000 đồng, N đồng ý và yêu cầu T2 trả nợ cho N 400.000 đồng tiền Tân vay mượn cá nhân của N, tổng cộng số tiền T2 đưa cho N là 1.200.000 đồng, T2 đồng ý. N sử dụng tài khoản Zalo "Kelvin Tran" liên lạc với H qua tài khoản Zalo của H tên "Thanh Ha" yêu cầu H chuẩn bị 12 số ma túy, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa giao cho “Tân” tại trước địa chỉ B N, Quận E và dặn H nhận tiền của khách mua là 1.200.000 đồng, nếu giao dịch thành công, N hứa trả công cho H số tiền là 50.000 đồng, H đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi đang đi giao ma tuý cho khách thì H bị kiểm tra bắt giữ như trên, N cũng bị bắt giữ sau đó. N2, H khai đây là lần đầu tiên thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và chưa thu lợi bất chính.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H và hình dấu Công an P, Quận E (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0645g (một phẩy không sáu bốn năm gam), loại Methamphetamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 523/24. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3); 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh N và hình dấu Công an P1, Quận C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6309g (không phẩy sáu ba không chín gam), loại Methamphetamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 524/24. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3); 02 (hai) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H và hình dấu Công an P1, Quận C, bên trong có: Gói 1: 03 (ba) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5919g (không phẩy năm chín một chín gam), loại Methamphetamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 527/24 (gói 1). Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3); Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5361g (không phẩy năm ba sáu một gam), loại Methamphetamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 527/24 (gói 2). Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3); 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, số Imei: 353793104055846; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng hồng, số Imei: 353290071667786; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số Imei: 352192201560173; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu “555”; 01 (một) bịch nylon màu đen; 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) hộp kim loại màu xanh; 01 (một) xe mô tô biển số 59S1-378.88, số khung: RLHJF18018Y623542, số máy: JF18E5225397.
Tại bản Kết luận giám định số: 1614/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H và hình dấu Công an P, Quận E (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0645g (một phẩy không sáu bốn năm gam), loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số: 1615/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh N và hình dấu Công an P1, Quận C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6309g (không phẩy sáu ba không chín gam), loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số: 1618/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận như sau: 02 (hai) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H và hình dấu Công an P1, Quận C, bên trong có: Gói 1: 03 (ba) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5919g (không phẩy năm chín một chín gam), loại Methamphetamine; Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5361g (không phẩy năm ba sáu một gam), loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 94/CT-VKS ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Minh N và Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Minh N và Nguyễn Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Minh N với mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù. Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận như sau: Các bị cáo Trần Minh N và Nguyễn Thanh H đã có hành vi mua chất ma túy nhằm bán lại cho người khác để hưởng khoản tiền chênh lệch, Cơ quan Công an đã bắt quả tang và khám xét nơi ở của các bị cáo thu giữ chất ma túy mà các bị cáo sử dụng vào việc mua bán và đã xác định được bị cáo Trần Minh N thực hiện hành vi mua bán ma túy với khối lượng 2,8234g (hai phẩy tám hai ba bốn gam), loại Methamphetamine; bị cáo Nguyễn Thanh H thực hiện hành vi mua bán ma túy với khối lượng 2,1925g (hai phẩy một chín hai năm gam) loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét các bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi.
Xét đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong vụ án này bị cáo N là người khởi xướng và là người trực tiếp mua ma túy và bán ma túy; bị cáo H là người giúp sức tích cực, giúp N đi giao ma túy để bán.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; mới phạm tội lần đầu. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để các bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo các bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi nhưng có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về tiền thu lợi bất chính: Xét các bị cáo mới phạm tội lần đầu, chưa thực hiện được hành vi mua bán ma túy là đã bị Cơ quan Công an bắt giữ nên chưa được hưởng lợi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[9] Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho bị cáo N và đối tượng “Tân” là người mua ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đang tiếp tục điều tra, xác minh khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi mua bán dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý của N và H, do số lượng đơn vị dụng cụ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 254 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng:
01 (một) gói niêm phong số 523/24. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 524/24. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 527/24 (gói 1). Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 527/24 (gói 2). Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu “555”; 01 (một) bịch nylon màu đen; 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) hộp kim loại màu xanh. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, số Imei: 353793104055846 là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Thanh H, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo H.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng hồng, số Imei: 353290071667786; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số Imei: 352192201560173 là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Thanh H và Trần Minh N, sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) xe mô tô biển số 59S1-378.88, số khung: RLHJF18018Y623542, số máy: JF18E5225397 do ông Nguyễn Văn T4 đứng tên chủ sở hữu, ông T4 đã bán lại cho ông Nguyễn Văn H1 có làm hợp đồng ủy quyền, ông H1 cho bị cáo Hà mượn, không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông H1.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Minh N 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Căn cứ điểm a, b, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2; điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:01 (một) gói niêm phong số 523/24. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 524/24. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 527/24 (gói 1). Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) gói niêm phong số 527/24 (gói 2). Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y và cán bộ điều tra viên Nguyễn Thành T3 (là số mẫu vật còn lại sau giám định); 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu “555”; 01 (một) bịch nylon màu đen; 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) hộp kim loại màu xanh.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng hồng, số Imei: 353290071667786; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số I: 352192201560173.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H: 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, số I: 353793104055846.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn H1: 01 (một) xe mô tô biển số 59S1-378.88, số khung: RLHJF18018Y623542, số máy: JF18E5225397.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh N và đồng phạm-Mua bán chất ma túy
