|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HN-ST
Ngày: 30/7/2024
V/v xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ton
Ông Nguyễn Văn Hớn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc– Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QÐST – HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Bà Nguyễn Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 23/7/2024.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn B có đăng ký kết hôn năm vào ngày 22/8/2005 tại Ủy ban nhân dân xã A trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu tháng 08/2020, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau dẫn đến rạn nứt tình cảm vợ chồng. Cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện nay, bà và ông B đã sống ly thân. Quá trình chung sống 02 con chung tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010. Hiện nay, các con chung đang sống với bà T và ông B.
Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010 và yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi các con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Văn B các văn bản tố tụng nhưng ông B vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Nguyễn Văn B.
*Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri có ý kiến:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 109, 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu nuôi dưỡng các con chung Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010. Tuy nhiên, cháu Yến N và cháu Hoàng D có nguyện vọng sống chung với ông B. Do đó, giao con chung Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010 cho ông Nguyễn Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng.
Do yêu cầu nuôi con chung của bà Nguyễn Thị T không được chấp nhận nên yêu cầu ông Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi các con chung của bà Nguyễn Thị T không được chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục: Bà Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà T, ông B là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[2]. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn B kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B vào ngày 22 tháng 8 năm 2005 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 08 năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành mời ông B để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông B không đến dự. Điều đó cho thấy ông B không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với bà T, chứng tỏ hôn nhân giữa bà T và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông B là có căn cứ, phù hợp. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T.
[3]. Về con chung: Quá trình sống chung, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung.
Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Yến N và cháu Nguyễn Hoàng D đang sống chung với bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn B. Hiện nay, cháu Yến N và cháu Hoàng D đều đang có cuộc sống sinh hoạt, học tập ổn định. Tuy nhiên, cả hai cháu đều có nguyện vọng được sống chung với cha là ông Nguyễn Văn B. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông B vắng mặt không lý do, không cung cấp ý kiến phản đối về việc bà T yêu cầu nuôi con chung cháu Nguyễn Thị Yến N, cháu Nguyễn Hoàng D. Đồng thời, ông B cũng không cung cấp ý kiến phản đối về việc cháu Nguyễn Thị Yến N, cháu Nguyễn Hoàng D có nguyện vọng tiếp tục được sống với ông. Vì vậy, mặc nhiên xem như ông B đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng các con chung Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010.
Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010 cho ông Nguyễn Văn B tiếp tục nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà Nguyễn Thị T có yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi các con chung theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, yêu cầu nuôi dưỡng các con chung của bà T không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi các con chung theo quy định pháp luật của bà T.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung của bà T, bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông về việc có yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét đến. Nếu có phát sinh tranh chấp ông B sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
[5]. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6]. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7]. Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 119 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án. Tuyên xử:
- Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010 cho ông Nguyễn Văn B tiếp tục nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Tòa không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Hội đồng không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng bà T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004217 ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, án phí bà T đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Thị Yến Nhi |
Bản án số 113/2024/HN-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 113/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 119 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Nguyễn Văn B. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 01/11/2006; cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 12/6/2010 cho ông Nguyễn Văn B tiếp tục nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Tòa không xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Hội đồng không xem xét.
