Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 113/2023/HS-ST

Ngày: 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị An Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân;

Ông Lê Văn Lài.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Thái Thị Thuỷ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đinh Quốc L; sinh ngày 04-02-1997, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú, nơi ở hiện nay: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn S, sinh năm 1972 và bà Lê Thị H, sinh năm 1980; chưa có vợ, con;

- Tiền án: không có.

- Tiền sự: Quyết định số 31/QĐ-TA ngày 02/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đinh Quốc L thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 30/6/2022.

Nhân thân:

Ngày 06/02/2015, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 28/02/2019, đã được xoá án tích.

Ngày 23/01/2021, bị Công an xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, chưa nộp phạt, đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 12/02/2021, bị Ủy ban nhân dân xã H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng do thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý, chấp hành xong ngày 13/5/2021.

Ngày 02/7/2021, Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 30/6/2022, chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

- Bị tạm giữ ngày 16/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến nay.

2. Huỳnh Thiện P, sinh ngày 24-4-1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Quang L1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; vợ Đặng Thị Yến N, có 01 người con, sinh năm 2019.

- Tiền án, tiền sự: không có.

- Bị can bị tạm giữ ngày 16/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến nay.

3. Trần Văn T1, sinh ngày 30-7-1992, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 1968; vợ Trịnh Thị Kim N1 (đã ly hôn), có 01 người con, sinh năm 2013.

- Tiền án: tại Bản án số 08/2013/HSST ngày 19/11/2013 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 15/12/2014, buộc tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 10.166.400 đồng.

- Tiền sự: không có.

Nhân thân: năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 15/12/2014.

Năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 07/02/2021.

Bị tạm giữ ngày 16/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến nay.

4. Trần Công Q, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N2 (chết), và bà Huỳnh Thị Bé B, sinh năm 1953; chưa có vợ con

- Tiền án, tiền sự: không có.

- Bị can bị tạm giữ ngày 16/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến nay.

Nhân thân: năm 2003, bị Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em, chấp hành xong ngày 29/4/2008, đã được xoá án tích.

Năm 2019, bị Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác".

- Bị can bị tạm giữ ngày 16/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/6/2023, bị cáo Huỳnh Thiện P đang ở nhà tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh thì nảy sinh ý định mua chất ma tuý để sử dụng. Bị cáo P sử dụng số điện thoại 0973.722.xxx gọi vào số điện thoại 0933.280.xxx của bị cáo Trần Văn T1 hỏi chỗ bán chất ma túy, T1 chỉ P xuống khu vực nhà thờ C1 thuộc thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh có một người tên C thường xuyên bán chất ma túy ở đây. Sau đó, P điều khiển xe môtô biển số 70D1-329.34 đi một mình đến khu vực cổng nhà thờ C1 thì gặp người thanh niên tên C (không rõ họ tên, địa chỉ) mua một bịch chất ma túy với số tiền 300.000 đồng cất giấu vào trong túi quần rồi điều khiển xe môtô đi về. Trên đường về, P điện thoại cho T1 rủ T1 sử dụng chung và nói muốn đến nhà T1 để sử dụng chất ma tuý nhưng T1 không đồng ý. T1 kêu P đến rước T1 đến nhà của Trần Công Q để cùng sử dụng chất ma túy. Khi đi T1 mang theo bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý và trên đường đi P đưa bịch chất ma tuý cho T1 cất giữ. Khi đến nhà của Q, T1 nói với Q về việc tổ chức sử dụng chất ma túy trong phòng ngủ tại nhà của Q thì Q đồng ý. T1 đưa cho Q chai nhựa kêu Q đổ nước vào chai để làm dụng cụ sử dụng chất ma túy, sau đó T1 đổ chất ma túy vào bộ D1 và sử dụng bật lửa nấu chất ma túy. Sau khi nấu chất ma túy xong, T1, PQ sử dụng chất ma túy, đang sử dụng thì Đinh Quốc L đến và cùng tham gia sử dụng chất ma túy. Trước đó, vào khoảng 12 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên L mượn xe mô tô của bạn là anh Nguyễn Thái D, sinh năm 1998, ngụ ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh đi đến khu vực bến xe T thuộc thành phố T, tỉnh Tây Ninh tìm gặp một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua một bịch chất ma túy với số tiền 2.000.000 đồng rồi cất giấu vào túi quần. Sau đó, L nhờ anh D chở đến nhà của Q, còn anh D thì đi về. Trong lúc đang sử dụng thì hết chất ma túy nên L lấy bịch chất ma túy trong túi quần ra, lấy đoạn ống nhựa có sẵn xúc chất ma túy đổ vào trong bộ dụng cụ sử dụng, phần chất ma túy còn lại trong bịch L tiếp tục cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải để dành sử dụng riêng cho bản thân, sau đó dùng bật lửa nấu chất ma túy lên để tất cả cùng sử dụng. Đến 15 giờ 00 phút ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Đinh Quốc L, Huỳnh Thiện P, Trần Văn T1Trần Công Q. T3 trên nền gạch trong phòng ngủ nhà của Trần Công Q 01 phễu thuỷ tinh bên trong có chứa chất bám dính màu trắng nghi là chất ma tuý (ký hiệu M1); 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý; 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín 03 đầu, 01 đầu rỗng, bên trong chứa chất bám dính màu trắng nghi là chất ma tuý (ký hiệu M2); 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 đầu được hàn kín, 01 đầu cắt nhọn; 01 đoạn ống nhựa màu trắng 02 đầu rỗng. T3 trong túi quần phía trước bên phải của Đinh Quốc L 01 bịch nylon màu trắng chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma tuý (ký hiệu M7) và nhiều vật chứng khác liên quan.

* Kết luận giám định số 925/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 phễu thuỷ tinh, ký hiệu M1 gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 0,2410 gam.

- Mẫu chất bám dính màu trắng bên trong 01 bịch nylon hàn kín ba đầu, một đầu rỗng, ký hiệu M2 gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 0,0230 gam.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng có 01 đầu kéo xếp viền đỏ (ký hiệu M7) gửi đến giám định là chất ma tuý, là loại Methamphetamine, khối lượng 1,3288 gam.

Quá trình điều tra, các bị can Đinh Quốc L, Huỳnh Thiện P, Trần Văn T1Trần Công Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị can Trần Văn T1 đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này là tái phạm.

* Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKSCT ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân, huyện C, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đinh Quốc L về tội “Tổ chức sử dụng phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Huỳnh Thiện P, Trần Văn T1Trần Công Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng; đề nghị:

- Tuyên bị cáo Đinh Quốc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Huỳnh Thiện P, Trần Văn T1Trần Công Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo L từ 07 năm đến 08 năm tù giam.

+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.

Căn cứ Điều 55 BLHS, đề nghị tổng hợp hình phạt phạm nhiều tội.

+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù giam.

+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo P từ 07 năm đến 08 năm tù giam.

+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Q từ 07 năm đến 08 năm tù giam.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do không có tài sản riêng.

- Về biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, 47, 48 BLHS, Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số 925 (gói 1), - 01 bì thư niêm phong ghi số 925 (gói 3), 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 đoạn ống nhựa màu trắng có một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hai đầu rỗng; 04 bật lửa;

+ Tịch thu sung quỹ các tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội.

+ Trả lại cho các bị cáo tài sản không sử dụng vào việc tổ chức sử dụng ma tuý.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói sau cùng: bị cáo L, P, T1 và bị cáo Q xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định:

[2.1] Để sử dụng ma tuý, bị cáo Huỳnh Thiện P rủ rê bị cáo T1 và trực tiếp mua ma tuý để cho các bị cáo Trần Văn T1, Trần Công QĐinh Quốc L sử dụng ma tuý. Trong đó, bị cáo T1 là người cung cấp dụng cụ để sử dụng ma tuý, địa điểm tại nhà của bị cáo Q; và cùng góp ma tuý để sử dụng là bị cáo L. Hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Ngoài ra, khi khám xét trong người bị cáo L thu được 1,3288gam ma tuý loại Methamphetamine; hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo L, P, T1 và Quốc tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; truy tố bị cáo L tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về loại độc chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội; các bị cáo nhận thức rõ ma túy là loại độc chất có hại cho sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự. Các bị cáo biết nhưng vẫn cố ý vi phạm pháp luật. Hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy hiện đang có chiều hướng gia tăng và phức tạp trong xã hội. Cần xử lý nghiêm các bị cáo để bảo đảm tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện các tình tiết trong vụ án, cụ thể:

[4.1] Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Bị cáo T1 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bị cáo P từng tham gia Dân quân thường trực tại Ban CHQS xã N, có thư cảm ơn của UBND xã T trong việc hỗ trợ kinh phí mô hình camera an ninh xã T; bị cáo L có bà cố là Mẹ Việt Nam anh hùng, có hai ông chú là liệt sĩ. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS các bị cáo T1, P và bị cáo L được xem xét.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo L, P, Q không có tình tiết tăng nặng; bị cáo T1 chưa chấp hành xong Bản án số 08/2013/HSST ngày 19/11/2013 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên lần phạm tội này bị xem là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.3] Bị cáo P mặc dù không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt nhưng bị cáo là người khởi xướng, rủ rê làm phát sinh vụ việc nên mức độ hành vi của bị cáo so với các bị cáo khác là cao hơn. Các bị cáo T1, QL đều đã từng bị cơ quan pháp luật đã xử lý, cải tạo, giáo dục nhưng các bị cáo khi chấp hành án xong vẫn không chấp hành pháp luật, tiếp tục phạm tội, thể hiện tính xem thường pháp luật. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để các bị cáo có thời gian cải tạo thành người có ích cho xã hội; đồng thời ngăn ngừa tội phạm chung.

[4.4] Về tổng hợp hình phạt: đối với bị cáo L, khi quyết định hình phạt cần xem xét tổng hợp hình phạt của cả 02 tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ những vật chứng có liên quan đến ma tuý; sung quỹ nhà nước các tài sản của các bị cáo có liên quan đến việc phạm tội và trả lại cho các bị cáo các tài sản không dùng vào việc phạm tội.

[6] Án phí: các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Quốc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đinh Quốc L 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, bị cáo Đinh Quốc L phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù.

2. Tuyên bố các bị cáo: Huỳnh Thiện P, Trần Văn T1, Trần Công Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thiện P 08 năm tù;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T1 08 năm tù;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Công Q 08 năm tù;

3. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày 16 tháng 6 năm 2023. Tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm thi hành án.

4. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

4.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 925 (gói 1), có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N3, trợ lý Phan Quốc V và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 925 (gói 3), có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N3, trợ lý Phan Quốc V và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy có đặc điểm là chai nhựa màu trắng, nắp màu vàng, bên trên có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng;
  • - 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng có một đầu được hàn kín, một đầu được cắt nhọn;
  • - 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, hai đầu rỗng;
  • - 04 (bốn) bật lửa;

4.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max, màu vàng, số IMEI: 353102101737903, mặt kính lưng điện thoại bị vỡ (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 105, màu đen, số Seri 1: 352885106830746, số Seri 2: 352885107830745 (đã qua sử dụng);

4.3. Trả lại cho các bị cáo các tài sản sau:

Trả cho bị cáo Đinh Quốc L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, loại 12C, màu đen, số IMEI 1: 863075068866167/78, số IMEI 2: 863075068866175/78 (Đã qua sử dụng);

Trả cho bị cáo Trần Văn T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng, không kiểm tra được số loại, số số IMEI do máy không mở được nguồn (Đã qua sử dụng).

5. Án phí hình sự sơ thẩm:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Trại tạm giam;
  • - Phòng PV 27 CATTN;
  • - Phòng LLTP - STP;
  • - Bộ phận THAHS. TATTN;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị An Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất matuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger