Hệ thống pháp luật
Bản án

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình, bà Đào Thị Vân.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2024/TLST-HS ngày 03/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: H1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Như P (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ: Lê Thị H, sinh năm 1995; con: có 01 sinh năm 2015.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại Bản án số 107/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt T 48 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, ra trại ngày 12/9/2019, hiện bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Người tham gia tố tụng khác:

  1. Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 04/4/2024, H T đi bộ đến đường làng thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh tìm mua ma túy về sử dụng. T1 gặp người thanh niên không quen biết và hỏi: “Có ma túy đá, ngựa không bán cho 200.000 đồng”, người thanh niên bảo “Có”. T1 đưa cho người thanh niên này 200.000 đồng, người thanh niên này nhận tiền và đưa cho T1 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy. T1 cầm túi ma túy vừa mua trong lòng bàn tay trái và đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 949/KL-KTHS ngày 06 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “- 01 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,1196 gam, là ma túy Methamphetamine.
  • - Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,1722 gam, là ma túy Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine là 0,2918 gam.

Methamphetamine chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại Bản Cáo trạng số 110/CT-VKSYP ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Hoàng Như T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo T2 khai: Số ma túy M do Công an thu giữ là ma túy do T2 mua của một người đàn ông không quen biết vào ngày 04/4/2024 với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Như T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • -Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Hoàng Như T từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/4/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Hoàng Như T2, sinh năm 1995; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T2.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ ngày 04/4/2024, tại thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Hoàng Như T2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,2918 gam; loại ma túy: Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu, Tại Bản án số 107/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt T2 48 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, ra trại ngày 12/9/2019. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện cho bản thân mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không tài sản và không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Hoàng Như T2, sinh năm 1995; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T2.

[3] Những vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T2 ngày 04/4/2024 tại thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, do T2 không biết tên tuổi địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được con người cụ thể, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Như T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Như T2 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/4/2024.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Như T2 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Hoàng Như T2, sinh năm 1995; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T2.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Như Thắng - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger