TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2023/HS-ST Ngày: 28/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thanh Hoàn
Ông Nguyễn Thế Căn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐHPT ngày 22/11/2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đức H, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/10/1972, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn A, xã T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: khu A, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị S; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Cao Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 28/10/1990, tại: thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nơi thường trú: xóm A, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: khu A, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T1 và bà Lê Thị C1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/8/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Thế Q, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/6/1966, tại: M, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu A, phường H, M, Quảng Ninh; chỗ ở: khu T, phường H, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang L và bà Vũ Thị R; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: ngày 05/02/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xử phạt tù chung thân, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 12/5/2013, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương; ngày 25/4/2013, thi hành xong phần dân sự của bản án; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Phạm Hữu L1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 12/11/1966, tại: huyện H, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường N, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Ngô Thị L2; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: ngày 10/6/1996, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 31/12/1999, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 29/12/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 08 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Trịnh Văn H1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 15/10/1980, tại: huyện V, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: tổ H, khu C, phường G, thành phố H, Quảng Ninh; chỗ ở: khu A, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị N; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Vi Quốc T2, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/3/1987, tại: M, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu B, phường H, M, Quảng Ninh; chỗ ở: khu A, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đoàn thể: Đảng viên Đ1, bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 08/11/2023; con ông Vi Văn K và bà Phạm Thị L3; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Nguyễn Văn V, tên gọi khác: không; sinh ngày: 07/02/1993, tại: thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nơi thường trú: xóm T, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: khu A, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
8. Họ và tên: Lưu Văn V1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 06/3/1981, tại: huyện B, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu H, phường H, M, Quảng Ninh; chỗ ở: khu A, phường H, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn Q1 và bà Vũ Thị T5; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
9. Họ và tên: Đinh Văn T6, tên gọi khác: không; sinh ngày: 16/6/1984, tại: huyện Y, tỉnh Phú Thọ; nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện Đ, Quảng Ninh; chỗ ở: thôn A, xã H, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T7 và bà Nguyễn Thị H2; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/8/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Vũ Hồng K1, Vũ Tú G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức H là nhân viên của Khách sạn M - M thuộc khu A phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và được bố trí ở, sinh hoạt tại phòng 206 của khách sạn. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/8/2023, khi H và Trịnh Văn H1 đang ngồi uống nước chè tại phòng thì có Cao Văn T và Nguyễn Văn V đến. Tiếp đó, có Đinh Văn T6, Vi Quốc T2, Lưu Văn V1, Nguyễn Thế Q và Vũ Hồng K1 đến ngồi chơi uống nước. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, H, H1, T, V, T6, T2, V1 và Q cùng rủ nhau đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng” còn K1 không tham gia; H đi mua 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 lá và dùng 01 chiếc chiếu bằng nhựa, 01 chiếc chiếu bằng gỗ và 01 chiếc xạp bằng gỗ ở trong phòng cho cả nhóm làm chỗ ngồi để đánh bạc. Hình thức chơi được quy định như sau: 08 người chơi, mỗi người được chia 03 lá bài, người chơi tự sắp xếp. Trước mỗi ván chơi mỗi người bỏ ra 10.000 đồng để vào giữa chiếu bạc gọi là tiền “gà”. Các liên kết trong bộ bài như sau: bài có 03 lá bài cùng số gọi là “Sáp” (sáp Át là lớn nhất, sáp 2 là nhỏ nhất), người chơi có 03 lá bài theo thứ tự 6,7,8 gọi là “Liêng” (Liêng 1,2,3 là nhỏ nhất, Liêng Q,K,A là lớn nhất). Nếu không có “Sáp” hoặc “Liêng” thì cộng 03 lá bài lại với nhau (9 điểm là lớn nhất, 0 điểm là nhỏ nhất). Khi so bài thì “Sáp” to hơn “Liêng” và “Liêng” to hơn điểm. Khi có bài bằng điểm nhau thì so chất, lần lượt cao nhất là rô, cơ, bích, tép. Sau khi xem bài mỗi người chơi có quyền tố thêm tiền hoặc bỏ bài, nếu người chơi thấy bài của mình thắng bài của những người chơi còn lại thì tố thêm tiền vào “gà”, nếu thấy thua bài của những người chơi còn lại thì bỏ bài. Người chơi được tố từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Lần lượt từng người chơi có thể tố thêm tiền hoặc bỏ bài theo thứ tự. Người tố sau có thể theo số tiền của người tố trước hoặc tố thêm tiền hoặc bỏ bài, người chơi nào không bỏ bài trong khi những người chơi khác đều bỏ bài hoặc người chơi nào có bài cao nhất thì thắng toàn bộ số tiền “gà”. Khi người chơi có “Sáp” thì những người chơi còn lại phải trả thêm cho người có “Sáp”, mỗi người 50.000 đồng, tương tự là đồng hoa (ba quân bài lần lượt cùng chất với nhau) thì mỗi người phải trả cho người có dồng hoa 30.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, Phạm Hữu L1 đến chơi cùng H, H1, T, V, T6, T2, V1 và Q.
Cả nhóm chơi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” như nêu trên đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/8/2023, thì bị Công an thành phố M kiểm tra, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: tại nơi đánh bạc gồm: 110.000 đồng, 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 01 chiếc chiếu bằng nhựa màu xanh, kích thước (1,8x1,5)m, 01 chiếc chiếu bằng gỗ, màu nâu, kích thước (1,7x1,2)m, 01 chiếc xạp bằng gỗ, bọc vải màu đỏ, kích thước (80x80)cm. Thu giữ của Nguyễn Đức H 270.000 đồng; Nguyễn Thế Q 110.000 đồng; Phạm Hữu L1 350.000 đồng; Lưu Văn V1 430.000 đồng; Cao Văn T 330.000 đồng; Vi Quốc T2 1.370.000 đồng; Trịnh Văn H1 2.100.000 đồng; Nguyễn Văn V 760.000 đồng; Đinh Văn T6 900.000 đồng. Ngoài ra, thu giữ trong túi quần của V số tiền 500.000 đồng và thu giữ trong ví của T số tiền 600.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ là 7.830.000₫ (Bảy triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
Đối với: số tiền 7.830.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã gửi tại Kho bạc Nhà nước thành phố M; số vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số 100/CT-VKSMC ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6, đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Về số tiền dùng để đánh bạc các bị cáo khai nhận: H mang theo 1.050.000 đồng để đánh bạc và đã thua 780.000 đồng; Q mang theo 200.000 đồng để đánh bạc và đã thua 90.000 đồng; L1 mang theo 500.000 đồng để đánh bạc và đã thua 150.000 đồng; V1 mang theo 600.000 đồng để đánh bạc và đã thua 170.000 đồng; T2 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc và đã thắng 370.000 đồng; H1 mang theo 1.560.000 đồng để đánh bạc và đã thắng 540.000 đồng; T6 mang theo số tiền 500.000 đồng để đánh bạc và đã thắng 400.000 đồng; V mang theo 650.000 đồng để đánh bạc và đã thắng 110.000 đồng còn 500.000 đồng không sử dụng để đánh bạc; T mang theo 670.000 đồng để đánh bạc và đã thua 340.000 đồng còn 600.000 đồng không sử dụng để đánh bạc. Tổng cộng các bị cáo sử dụng 6.730.000đ (Sáu triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc, còn 1.100.000 đồng không sử dụng để đánh bạc.
Người làm chứng là Vũ Hồng K1 và Vũ Tú G vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 21 giờ ngày 12/8/2023 khi anh K1 đến phòng 206, tầng 3 của khách sạn M chơi thì thấy có nhiều người vào phòng, sau đó có 09 người tham gia chơi bài bằng hình thức đánh “Liêng”. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày cả anh K1 và anh G chứng kiến lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang 09 người đánh bạc, gồm có: Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6, thu giữ tại chiếu bạc 52 quân bài tú lơ khơ; 02 chiếc chiếu; 01 miếng gỗ bọc vải nỉ màu đỏ và số tiền 6.730.000đ. Ngoài ra công an tạm giữ của Cao Văn T số tiền 600.000đ và Nguyễn Văn V 500.000đ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 17; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Hữu L1 không được áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự; các bị cáo H, T, V1, T2, H1, V và T6 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thế Q được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt các bị cáo:
- Phạm Hữu L1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2023
- Nguyễn Đức H từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Nguyễn Thế Q, từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án
- Cao Văn T, từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án
- Lưu Văn V1, từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án
- Vi Quốc T2, từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án
- Trịnh Văn H1, từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án
- Nguyễn Văn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án
- Đinh Văn T6, từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Cao Văn T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- + Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu chất liệu bằng nhựa màu xanh; 01 chiếc chiếu bằng gỗ màu nâu; 01 chiếc xạp bằng gỗ.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.730.000đ là tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc.
- + Trả lại cho Cao Văn T số tiền 600.000đ; trả lại cho Nguyễn Văn V số tiền 500.000₫ là tài sản riêng của hai bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng, thấy rằng người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai, nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 21 giờ 45 phút ngày 12/8/2023, tại phòng 206, khách sạn M - M thuộc khu A phường T, thành phố M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6, đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh “Liêng”. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, bị Công an thành phố M bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.730.000₫ (Sáu triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) và công cụ dùng để đánh bạc.
Hành vi nêu trên của các bị cáo: Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 phạm vào tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi ích kinh tế, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước, nhưng đều thống nhất cùng tham gia đánh bạc ăn tiền. Bị cáo H là người đi mua bài và chuẩn bị chiếu cho mọi người tham gia đánh bạc nên có vai trò chính trong vụ án; các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau, xếp sau bị cáo H.
[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Thế Q và Phạm Hữu L1 có nhân thân xấu, do đó cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với hai bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Đức H Lưu Văn V1 Cao Văn T Vi Quốc T2 Trịnh Văn H1 Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thế Q có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân không có việc làm lại thường xuyên đau yếu nhưng gia đình vẫn luôn chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, gương mẫu đi đầu trong công cuộc xây dựng khu phố đoàn kết, văn minh được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M (nơi bị cáo đăng ký thường trú) xác nhận nên được xem xét hưởng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Mức hình phạt đối với các bị cáo: sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, vai trò của từng bị cáo, tổng số tiền dùng để đánh bạc, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Nguyễn Đức H Lưu Văn V1 Cao Văn T Vi Quốc T2 Trịnh Văn H1 Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Q có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết buộc các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Lưu Văn V1 Cao Văn T Vi Quốc T2 Trịnh Văn H1 Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ vì vậy chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành người lương thiện, công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Phạm Hữu L1, mặc dù tham gia với vai trò đồng phạm nhưng chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01 ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02, thấy bị cáo L1 không đủ kiều kiện được hưởng án treo nên áp dụng hình phạt giam đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều không có công việc thu nhập ổn định, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu chất liệu bằng nhựa màu xanh; 01 chiếc chiếu bằng gỗ màu nâu; 01 chiếc xạp bằng gỗ không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với số tiền 6.730.000đ là tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Trả lại cho Cao Văn T số tiền 600.000đ; trả lại cho Nguyễn Văn V số tiền 500.000₫ là tài sản riêng của hai bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Đối với anh Nguyễn Đức C2 (giám đốc khách sạn) không biết việc Nguyễn Đức H, Cao Văn T, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Trịnh Văn H1, Vi Quốc T2, Nguyễn Văn V, Lưu Văn V1 và Đinh Văn T6 đánh bạc tại khách sạn, không cấu thành tội phạm, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Hữu L1 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2023
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo:
- - Nguyễn Đức H: 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Lưu Văn V1: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Cao Văn T: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
- - V: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Trịnh Văn H1: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Nguyễn Văn V: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Đinh Văn T6: 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Q, 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án
Giao các bị cáo Nguyễn Đức H, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, Quảng Ninh; giao bị cáo Nguyễn Thế Q và Lưu Văn V1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, Quảng Ninh; giao bị cáo Vi Quốc T2 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, Quảng Ninh; giao bị cáo Đinh Văn T6 cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, Quảng Ninh; giao bị cáo Cao Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo H, T, H1, T2, V, Q, V1 và T6 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Vi Quốc T2, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V, Đinh Văn T6 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 31 tháng 10 năm 2023 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70/2023/QĐ-TA ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Cao Văn T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.- + Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu chất liệu bằng nhựa màu xanh; 01 chiếc chiếu bằng gỗ màu nâu; 01 chiếc xạp bằng gỗ.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.730.000đ (sáu triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
- + Trả lại cho Cao Văn T số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng); trả lại cho Nguyễn Văn V số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 10/2024/THA ngày 24/10/2023.
Về án phí:
áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Nguyễn Đức H, Nguyễn Thế Q, Phạm Hữu L1, Lưu Văn V1, Cao Văn T, Vi Quốc T2, Trịnh Văn H1, Nguyễn Văn V và Đinh Văn T6 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.Về quyền kháng cáo:
áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan |
Bản án số 113/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 113/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Koang 21 gio 45 phut ngay 12/8/2023, tai phong 206, khach san M - M thuoc khu A phuong T, thanh pho M. Nguyen Due H. Nguyen The Q. Pham Huu L 1. Luu Van V 1, Cao Van T, Vi Quoc T2, Trinh Van H l, Nguyen Van V va Dinh Van T6, da cd hanh vi danh bac trai phep duoc thua bang tien, dudi hinh thuc danh “Lieng”. Den 22 gid 30 phut cung ngay, bi Cong an thanh pho M bat qua tang, thu giu vat chung, gom so tien dung vao viec danh bac la 6.730.000d (Sau trieu bay tram ba muoi nghin dong) va dung cu dung de danh bac.
