|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày 27 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tôn Thất Hưng, ông Đặng Văn Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc là Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Đoàn Văn C (Công Mã), sinh năm 2002 tại tỉnh Đồng Nai;
Nơi cư trú: Tổ E, khu phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai;
Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa - học vấn: 8/12; con ông Đoàn Thanh V, sinh năm 1968 và con bà Lương Thị N, sinh năm 1967; nghề nghiệp, vợ, con, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/6/2020 bị Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiền án: Ngày 31/12/2020 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu kết án bị cáo 04 năm tù, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, đến ngày 21/9/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị tạm giữ ngày 11/3/2024, tạm giam ngày 19/3/2024.
(Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần phòng xét xử trực tuyến tại Nhà tạm giữ Công an huyện V; có sự tham gia giám sát, bảo vệ của Công an huyện V: Ông Nguyễn Xuân B, ông Nguyễn Văn T).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đoàn Văn C là người có sử dụng ma túy. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, bị cáo sử dụng điện thoại di động hiệu Redme (không nhớ số) gọi đến số 0972302432 của H (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua 500.000 đồng ma túy đá, hẹn giao tại cầu Thủ Biên thuộc xã T, huyện V. Sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển số 60B9-50114 đến điểm hẹn gặp H đưa 500.000 đồng và nhận 02 bịch nilong loại túi zíp bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá cất vào ốp lưng điện thoại điều khiển xe quay về đến tổ D, khu phố F, thị trấn V thì bị cáo tìm chỗ sử dụng ma túy đã gặp Công an huyện V và Công an thị trấn V thì bị cáo ném (vứt) điện thoại có ma túy ở ốp lưng xuống đường, Công an phát hiện bắt quả tang lập hồ sơ xử lý theo pháp luật.
Thu giữ vật chứng: 02 bịch nilong loại túi zíp bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong); 01 điện thoại di động Redmi; 01 xe mô tô Yamaha Exciter biển số 60B9-50114 (Bút lục số 1-3).
Kết quả xác minh xe mô tô biển số 60B9-50114 của Đoàn Văn H1 - sinh năm 1998, thường trú khu phố F, thị trấn V, huyện V, Đồng Nai (anh của bị cáo) là người có quyền sở hữu tài sản đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe. Ngày 11/3/2024 H1 không biết bị cáo điều khiển xe mô tô đi mua ma túy nên Công an huyện V đã trả lại xe này đối với Đoàn Văn H1.
Tại Kết luận giám định số 514/KL-KTHS ngày 17/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy có khối lượng 0,452 gam, loại Methamphetamine. H2 lại đối tượng sau giám định trong niêm phong số 514/KL-KTHS.
- Cáo trạng số 106/CT-VKSVC ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội như sau:
Ý kiến trình bày của bị cáo phù hợp tài liệu vụ án, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt.
Trong vụ án này bị cáo tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 20 tháng đến 02 năm tù.
Đối với người tên H bán ma túy với bị cáo thì chưa làm việc được nên yêu cầu Công an huyện V tách hành vi này, tiếp tục xác minh xử lý theo pháp luật.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi; tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 514/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Công an tỉnh Đ.
* Bị cáo trình bày ý kiến: Bị cáo có mua ma túy để sử dụng, nội dung Cáo trạng đúng sự thật, bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay, người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại. Hoạt động tiến hành tố tụng của Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp pháp luật.
[2]. Về trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đồng ý về hành vi thực hiện tội phạm theo nội dung Cáo trạng là đúng sự thật, ý kiến trình bày của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra và chứng cứ khác, như vật chứng, Kết luận giám định là các chứng cứ chứng minh: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định pháp luật.
* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình để nhận biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, góp phần gây tác hại đối với sức khỏe con người, làm phát sinh một số tội phạm khác, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội nên cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Trong vụ án này, bị cáo là người có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội là trường hợp tái phạm phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Đối với ý kiến trình bày của bị cáo là có mua ma túy của người tên H thì Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V đang xác minh để xử lý theo pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ xét xử đối với bị cáo đã có quyết định truy tố của Viện kiểm sát là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi;
Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 514/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Công an tỉnh Đ.
[4]. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
[5] Luận tội của Kiểm sát viên phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đoàn Văn C 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 3 năm 2024.
- Về vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi;
Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 514/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của Công an tỉnh Đ - (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về trách nhiệm thi hành án dân sự:
Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kim Đính |
4
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cong-Tàng trữ trái phép chất ma túy
