Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/DS-PT

Ngày 26/02/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh
Bà Phạm Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 786/2024/DS-PT ngày 25/10/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt.”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 407/2025/QĐPT, ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Đạo Thị Diệu H, sinh năm 1969. Vắng mặt
  2. Ông Nguyễn X, sinh năm 1963. Vắng mặt

Cùng địa chỉ cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện hợp pháp của bà H, ông X: Ông Đặng T, sinh năm: 1962 theo Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2022 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: 2 T, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm: 1950 (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số A T, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với bên bị đơn:

  1. Ông Phan Thái T1, sinh năm: 1985 (vắng mặt);
  2. Bà Phan Thị Thái T2, sinh năm: 1984;

Đại diện hợp pháp của bà T2: Bà Võ Thị N, sinh năm: 1950 là người giám hộ (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Số A T, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đặng Chí L, sinh năm: 1970 (vắng mặt);
  2. Bà Lê Thị P, sinh năm: 1972 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ cư trú: Khu phố A, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm: 1973 (vắng mặt);
  2. Bà Phan Lưu P1, sinh năm: 1980 (vắng mặt);

Đại diện hợp pháp của bà P1: Ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm: 1973 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Văn phòng C1;

Đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị V - Trưởng Văn phòng (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt);

Địa chỉ trụ sở: Số A đường B tháng H, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Ủy ban nhân dân huyện T.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trương Xuân V1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T (vắng mặt).

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân T4 - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (X xét xử vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở: Khu Trung tâm hành chính huyện T, đường Q, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đạo Thị Diệu H, ông Nguyễn X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn X và bà Đạo Thị Diệu H là vợ chồng.

Diện tích đất 8.262m² đang tranh chấp (nay thuộc một phần thửa 63 - tương ứng với các thửa 99, 100 tờ bản đồ 38 xã P,) có nguồn gốc là do ông K, bà N1 (cha mẹ của bà H) khai hoang trước giải phóng (ông K, bà N1 có giấy tờ khai hoang, hiện nay giấy tờ này vẫn còn và do bà H giữ). Năm 2005, ông K, bà N1 tặng cho ông X, bà H 13.775m² thuộc thửa 63a (trong đó có 8.262m² tranh chấp), việc tặng cho đất giữa hai bên có làm giấy tờ, tuy nhiên không công chứng, chứng thực, không ai làm chứng mà chỉ có các con của ông K, bà Nhật K1 vào giấy tờ tặng cho này.

Tứ cận của thửa 63a khi tặng cho cụ thể như sau: Tây giáp đường ray xe lửa, Bắc giáp nhà A, Nam giáp đất Tu H, Đông giáp quốc lộ A. Tại thời điểm tặng cho, cha mẹ bà H vẫn đang canh tác trên thửa 63a (một nửa diện tích trồng lúa, một nửa trồng đào). Sau khi được tặng cho, ông X, bà H trực tiếp canh tác liên tục từ đó cho đến nay. Hiện nay, toàn bộ thửa 63a vẫn do ông X, bà H quản lý, canh tác.

Thời điểm cha mẹ tặng cho ông X, bà H thửa 63a thì thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ), sau khi được tặng cho, ông X, bà H đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận và được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện N (nay là UBND huyện T) cấp GCNQSDĐ thửa đất 63a diện tích là 13.775m² mang tên Đạo Thị Diệu Hiền ngày 14/7/2005. Hiện nay, GCNQSDĐ này ông X, bà H vẫn đang giữ.

Năm 2012, UBND huyện T ra Quyết định số 1808/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của bà N về việc một số người dân khai thác trái phép cây trồng trên đất giao trồng rừng và việc UBND huyện N đã cấp GCNQSDĐ cho một số hộ dân trên phần diện tích mà Công ty L5 đã giao cho gia đình bà, thời điểm đó ông X, bà H vẫn đang canh tác trên đất.

Cùng trong năm 2012, UBND huyện T có Quyết định số 143/QĐ-UBND thu hồi GCNQSDĐ đối với thửa 63a của bà H vì cho rằng UBND huyện N cấp GCNQSDĐ thửa 63a cho bà H là sai.

Tất cả các quyết định trên ông X, bà H đều được nhận, tuy nhiên đến năm 2018 thì ông X, bà H mới đi khởi kiện vụ án hành chính đối với 02 quyết định này và Tòa án tỉnh Ninh Thuận đã ra quyết định đình chỉ vì hết thời hiệu khởi kiện.

Năm 2018, bà N đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T3 và ông Đặng Sỹ L1 toàn bộ diện tích 8.262m², ông T3, ông L1 đều đã được cấp GCNQSDĐ đối với phần diện tích đất nhận chuyển nhượng từ bà N (chính là các thửa 99, 100).

Hiện, toàn bộ thửa 99, 100 vẫn do vợ chồng ông X, bà H trực tiếp sử dụng, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 do vợ chồng ông X, bà H xây năm 2018, còn ông T3, ông L1 không canh tác gì.

Nay, ông X, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Yêu cầu bà N phải trả lại cho ông X, bà H quyền sử dụng diện tích đất 8.262m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ 38 xã P, huyện T.

Yêu cầu hủy GCNQSDĐ mà UBND huyện T đã cấp cho bà N thửa 63 năm 2013 đối với diện tích 8.262m².

Yêu cầu hủy Quyết định số 143/QĐ-UBND và số 1808/QĐ-UBND năm 2012 của UBND huyện T.

Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N với ông T3, ông L1 và hủy các GCNQSDĐ đã cấp cho ông T3, ông L1.

Tại phiên tòa, ông X, bà H và người đại diện trình bày bổ sung:

Ông X xác định cha mẹ bà H là ông K và bà N1 không có giấy tờ khai hoang đối với diện tích thửa 63a, ông K, bà N1 tặng cho thửa 63a cho ông X, bà H vào năm 2000.

Ông đề nghị Tòa án căn cứ và trích lục bản đồ ngày 27/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N làm căn cứ số liệu để giải quyết tranh chấp đất giữa vợ chồng ông và bà N; ông xác định phần diện tích tranh chấp trong trích lục này là thuộc một phần thửa 63a đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ cho bà H năm 2005. Sở dĩ, trước đây trong biên bản lấy lời khai và trong đơn khởi kiện ông đều ghi là thửa 63 vì ông nhầm lẫn, ông xác định là thửa 63a tờ bản đồ 38 xã P.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2023, bị đơn bà Võ Thị N trình bày:

Bà và ông Phan Thái T5 là vợ chồng, kết hôn trước năm 1977 nhưng cụ thể năm nào thì bà không nhớ. Khi kết hôn, bà N và ông T5 có đăng ký kết hôn nhưng giấy tờ hiện nay đã thất lạc.

Về thửa đất số 63, tờ bản đồ số 38 xã P, huyện T có nguồn gốc như thế nào thì bà không rõ, lý do là vì thời đó chồng bà và ông Võ Thanh P2 (hiện đang ở M, P) rủ nhau làm ăn chung tại T, còn bà thì ở tại căn nhà của vợ chồng ở P để buôn bán vật liệu xây dựng nên bà không quan tâm lắm đến vấn đề đất ở T, thực tế chồng bà và ông P2 đã tạo lập được bao nhiêu thửa đất ở đây thì bà không biết. Năm 2003, chồng bà chết, sau đó vào khoảng năm nào bà không nhớ, ông P2 có liên hệ với bà bảo bà làm thủ tục ủy quyền để ông P2 đi khiếu nại, đòi lại các thửa đất mà ông P2 và chồng bà đã làm chung khi xưa. Do bà không biết gì đến đất của chồng bà trước đây nên bà đã giao toàn bộ vụ việc cho ông P2 giải quyết, bà cũng không hỏi thăm xem tình hình tranh chấp, kiện tụng đất đai như thế nào, chỉ biết sau này ông P2 có báo với bà là đã đòi lại được đất và đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đứng tên bà, tuy nhiên ông P2 yêu cầu được giữ các giấy tờ này và bà cũng đồng ý vì bà nghĩ bà không liên quan gì đến đất tại T.

Sau đó, khoảng năm nào bà không nhớ, ông P2 có nhờ bà ra Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp các thửa đất ở T để vay giúp ông số tiền 500.000.000đ. Khoảng 02 năm sau, ông P2 lại bảo bà ký giấy bán đất ở T (các thửa đất đã cấp giấy chứng nhận cho bà) cho ông T3 (họ tên cụ thể là gì thì bà không rõ) để trả tiền vay ngân hàng. Do ông P2 năn nỉ bà nhiều lần nên bà đồng ý ký giấy bán đất. Số tiền bán đất cho ông T3 là bao nhiêu thì bà không biết vì bà để cho ông P2 toàn quyền quyết định, chỉ biết ông P2 có dùng số tiền bán đất này để trả hết nợ vay ngân hàng. Ngoài ra, ông P2 còn 01 lần bán đất ở T nữa, ông P2 bán cho ai, số tiền bán đất là bao nhiêu bà không biết, chỉ biết ông P2 có nhờ bà và con trai là Phan Thái T1 ký giấy tờ bán đất và ông P2 có đưa cho T1 10.000.000đ tại Văn phòng C2 ra ký hợp đồng chuyển nhượng đất. Sau đó, có 01 lần ông P2 qua nhà bà đưa cho bà 10.000.000đ, số tiền 10.000.000đ này là tiền gì thì bà không nhớ nhưng có liên quan đến các thửa đất ở T. Do toàn bộ giấy tờ đất của các thửa đất đứng tên bà ở T đều do ông Phương G và các giao dịch có liên quan đến các thửa đất này cũng do ông P2 đứng ra giao dịch nên bà không biết gì cả, hiện nay, gia đình bà còn đất ở T hay không, còn bao nhiêu thửa đất thì bà cũng không biết.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông X, bà H đòi lại 8.262m² thuộc một phần thửa 63 thì bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết. Do hiện nay bà đã đi tu và chuyển đến ở tại chùa T10, bà còn phải nuôi 01 người con gái tên Phan Thị Thái T2 bị bệnh đau nên bà không có thời gian đến đến Tòa, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân T3 và bà Phan Lưu P1 do ông Nguyễn Xuân T3 là đại diện hợp pháp trình bày:

Khoảng năm 2015-2016, vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị N 4.904m² đất thuộc một phần thửa đất số 63 (nay là thửa 100), tờ bản đồ số 38 xã P. Giá chuyển nhượng khoảng 900.000.000đ (ông không nhớ chính xác vì thời gian đã quá lâu). Việc chuyển nhượng giữa ông và bà N có làm giấy viết tay, có làm giấy giao nhận tiền giữa hai bên, tuy nhiên giấy viết tay và giấy nhận tiền này hiện nay ông không còn giữ nữa. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa 100, đến năm 2018, ông và bà N cùng với con của bà N hoàn thiện thủ tục để cấp GCNQSDĐ thửa 100, vì vậy có lập 01 hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng về việc chuyển nhượng giữa 02 bên. Giá ghi trong hợp đồng không phải là giá thực tế chuyển nhượng, ông khẳng định bà N là người trực tiếp chuyển nhượng thửa 100 và nhận tiền của ông.

Trước khi chuyển nhượng cho ông, bà N có cho ông xem GCNQSDĐ (giấy này mang tên chồng bà N - Phan Thái T5, quyết định của UBND tỉnh N về việc giao đất cho chồng bà N và quyết định của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam), phần đất bà N chuyển nhượng cho ông chỉ là một phần trong diện tích thửa 63 đã cấp giấy chứng nhận của bà N. Sau khi thống nhất giá, ông giao cho bà N một phần tiền, bà N trực tiếp chỉ đất chuyển nhượng cho ông nhưng chưa đo đạc thực tế vì khi đó bà N đang làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ phần đất của chồng bà N. Năm 2018, bà N được cấp GCNQSDĐ và cùng trong năm 2018 ông và bà N cùng con của bà N hoàn thiện thủ tục hợp đồng, sau đó ông được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp GCNQSDĐ, phần đất ông nhận chuyển nhượng được tách ra từ thửa số 63, chính là thửa 100 mà hiện nay ông X, bà H đang tranh chấp. Thời điểm nhận chuyển nhượng, trên đất của bà N có trồng điều, ngoài ra không có nhà ở hay công trình gì khác.

Về việc trả tiền cho bà N: Do không có tiền trả một lần nên ông trả tiền mua đất làm nhiều lần, ông trực tiếp trả tiền cho bà N một vài lần, số tiền là bao nhiêu thì ông không nhớ; một vài lần, ông giao cho T1 con trai của bà N và một vài lần, giao cho ông Võ Thanh P2. Khi giao tiền cho T1 hoặc ông P2, ông đều gọi điện cho bà N hỏi có giao cho những người trên không, bà N đồng ý thì ông mới giao cho hai người này. Sở dĩ ông phải hỏi bà N vì khi ông giao tiền cho bà N thì bà N ở chùa và nói bận bịu nên đề nghị ông giao cho 02 người trên; hơn nữa, trong thời gian này, ông P2 là người trực tiếp đi làm giấy tờ cho phần diện tích đất chuyển nhượng cho ông. Sau khi được cấp GCNQSSÐ, do bận công việc làm ăn nên ông không qua thăm đất thường xuyên được, 01 năm sau ông lên đất thì thấy có 01 chòi xây xi măng nhưng đến nay ông cũng không biết căn chòi này là của ai.

Đối với việc ông X, bà H khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và bà N thì vợ chồng ông không đồng ý vì việc ông chuyển nhượng đất từ bà N là hoàn toàn hợp pháp.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Chí L và bà Lê Thị P thống nhất trình bày:

Ông L và bà P là vợ chồng. Số tiền nhận chuyển nhượng thửa 99 là tài sản chung của vợ chồng ông.

Năm 2018, vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng của ông Võ Thanh P2 khoảng 1.500m² thuộc một phần thửa 63 (nay là thửa đất số 99), tờ bản đồ số 38 xã P. Tại thời điểm chuyển nhượng, trên thửa 99 không có cây trồng hay vật kiến trúc gì. Giá chuyển nhượng là bao nhiêu ông không nhớ vì đã quá lâu, ông và bà N có lập hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C1. Trước khi chuyển nhượng, phần đất thuộc thửa 99 nằm trong GCNQSDĐ của thửa 63 đã được cấp cho bà Võ Thị N.

Giữa ông P2 và bà N có quan hệ như thế nào thì ông không biết, chỉ biết ông P2 là người đứng ra giao dịch, còn bà N là người trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 99 với ông. Sau khi ký hợp đồng xong thì ông giao toàn bộ tiền chuyển nhượng cho ông P2. Sở dĩ ông ký hợp đồng chuyển nhượng với bà N nhưng giao tiền cho ông P2 vì ông P2 nói đất này của ông P2 và bà N mua chung, việc ký hợp đồng và giao tiền cho ông P2 thì bà N có biết và đồng ý. Sau khi ký hợp đồng xong thì giữa hai bên không giao đất tại thực địa, vì vậy, cho đến nay, ranh giới đất của ông như thế nào ông cũng không rõ, ông chỉ ước lượng phần đất của ông nằm giáp ranh với đất của ông T3 kéo dài theo mặt đường là 15m và có chiều dài hết đất. Từ khi chuyển nhượng đến nay, ông không trồng cây hay xây dựng gì trên đất.

Năm 2018, ông được cấp GCNQSDĐ thửa 99. Năm 2022, ông chuyển nhượng lại toàn bộ thửa 99 cho ông Bùi Văn H1 trú tại khu phố A, phường Đ, thành phố P - T.

Đối với việc ông X, bà H khởi kiện cho rằng thửa 99 bà N chuyển nhượng cho ông là đất của ông X, bà H thì ông không đồng ý vì khi chuyển nhượng cho ông, thửa 99 đã có GCNQSDĐ cấp cho bà N. Giả sử trường hợp Tòa án giải quyết công nhận diện tích thửa 99 này là của ông X, bà H thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và ông P2, bà N. Ông sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác khi có kết quả xét xử của vụ án này. Ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và ông H1.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 19/4/2024 và tại phiên tòa, Ủy ban nhân dân huyện T do ông Lê Xuân T4 đại diện trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 63 mà ông X, bà H đang tranh chấp với bà N là của Nông trường T6 tàu, Đ, sau đó nông trường giải thể và giao cho Công ty L5 (sau đây gọi là Lâm trường). Năm 1994, Lâm trường giao đất rừng cho một số người dân để trồng rừng, trong đó có ông Phan Thái T5 - chồng bà N, diện tích giao là 12,4 ha (bao gồm cả thửa 63 hiện nay) theo quyết định 302/QĐ-UB-NP năm 1994.

Năm 2005, UBND huyện N đã cấp GCNQSDĐ thửa 63a (thuộc một phần thửa 63) cho bà H. Đến năm 2011, bà N (do ông Trần Công C là đại diện ủy quyền) có đơn khiếu nại về việc cấp GCNQSDĐ cho bà H. Ngày 07/8/2012, UBND huyện T đã ra Quyết định số 1808/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Võ Thị N, trong đó có nội dung xác nhận việc cấp GCNQSDĐ thửa 63a cho bà H là sai. Ngày 10/9/2012, UBND huyện T đã ra quyết định thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho bà H đối với thửa 63a. Đến năm 2013, bà N được cấp GCNQSDĐ đối với thửa 63 (bao gồm cả thửa 63a ngày trước).

Như vậy, thực tế thửa 63a không phải là của bà H, vì vậy UBND huyện T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, ông X về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà N và hủy các quyết định số 143/QĐ-UBND, số 1808/QĐ-UBND của UBND huyện T.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị V là Trưởng Văn phòng C1 trình bày:

Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa 99, 100, tờ bản đồ số 38 xã P giữa bà Võ Thị N - ông Đặng Chí L và giữa bà Võ Thị N - ông Nguyễn Xuân T3 là đúng theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:

Căn cứ vào các điều 26, 34, 147, 165, khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Án lệ số 72/2024/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Các điều 166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H về việc buộc bà Võ Thị N phải trả lại cho ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H 5.465,3m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 38 xã P được xác định bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,19,20,13 theo trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ngày 27/5/2024.
  2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 và Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 10/9/2012 của Ủy ban nhân dân huyện T.
  3. Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 217947 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà Võ Thị N ngày 30/9/2013 đối với diện tích đất 5.465,3m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 38 xã P được xác định bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,19,20,13 theo trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ngày 27/5/2024.
  4. Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 302/HĐCNQSDĐ-VPCCAK giữa bà Võ Thị N và ông Đặng Chí L được Văn phòng C1 công chứng ngày 10/02/2018.
  5. Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 303/HĐCNQSDĐ-VPCCAK do bà Võ Thị N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T3 được Văn phòng C1 công chứng ngày 10/02/2018.
  6. Buộc ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H phải tháo dỡ 01 căn nhà cấp 4 tường gạch, mái lợp tôn, diện tích 17,5m² và 22 cọc bê-tông trên diện tích 5.465,3m² thuộc một phần thửa 63, tờ bản đồ 38 xã P được xác định bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,19,20,13 theo trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ngày 27/5/2024.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí đo đạc, định giá tài sản, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/7/2024 nguyên đơn là vợ chồng bà Đạo Thị Diệu H, ông Nguyễn X có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Tại biên bản làm việc ngày 30/7/2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, ông X bà H xác định cụ thể yêu cầu kháng cáo: đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo hướng sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông X, bà H giữ nguyên nội dung kháng cáo như nêu trên.

Đối với bị đơn bà Võ Thị N trong quá trình xét sơ thẩm bà trình bày không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và hiện nay bà đã đi tu và chuyển đến ở tại Chùa T10 nên xin vắng mặt trong quá trình tòa án xét xử.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa và kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt bà N vì bà N đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên Bản án sơ thẩm. (Có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về diện tích, nguồn gốc đất tranh chấp:

[1.1] Căn cứ Bản trích lục Bản đồ địa chính khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ký ngày 27/5/2024 thể hiện diện tích đất tranh chấp là 5.465,3m² thuộc thửa số 63 tờ bản đồ số 38 hiện nay tương ứng với một phần các thửa 100 diện tích 4.152m²; thửa 99 diện tích 1.170,7m²; thửa 121 diện tích 4,5m²; thửa 122 diện tích 109,2m²; thửa 166 diện tích 21,7m²; thửa 166 diện tích 21,7m². Trong đó thửa số 100 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 535867 ngày 18/5/2018 cho ông Nguyễn Xuân T3; Thửa số 99 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 637591 ngày 18/4/2018 cho ông Đặng Trí L2. Theo biên bản định giá tài sản ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận thể hiện trên thửa số 100 có 01 căn nhà tạm diện tích 17,5m² có kết cấu: móng gạch, tường gạch không tô, nền xi măng, kèo thép, mái tôn (không cửa đi); 22 cọc bên tông có khối lượng 1,76m³. Các tài sản này là do phía nguyên đơn ông X, bà H tạo lập năm 2018.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn ông X, bà H cho rằng phần diện tích đất tranh chấp nêu trên là thuộc một phần thửa số 63a có nguồn gốc của cha mẹ bà H là ông K, bà N1 khai hoang sau đó tặng cho lại vợ chồng bà H vào năm 2000, vợ chồng bà sử dụng ổn định đến năm 2005, bà H đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ với tổng diện tích 13.775m². Tuy nhiên ngoài lời trình bày nêu trên thì bà H không có chứng cứ nào khác chứng minh.

[2] Trong khi đó theo Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của hộ bà Nguyễn Thị N2, thể hiện nguồn gốc đất như sau: Tháng 9 năm 1990 Nông trường Thơm tau, Đ giải thể, bà giao toàn bộ diện tích đất 700ha cho Công ty L5 (Sau là Lâm trương N và đến năm 1997 được đổi tên là Ban Q1) quản lý sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Năm 1991 và 1992 Lâm trường Ninh Phước triển khai trồng rừng (cây keo lá tràm, cây Bạch đàn) trên đất nông trường đã bàn giao. Năm 1994 Lâm trường thực hiện giao đất, giao rừng (theo phương án điều chế rừng đơn giản) cho công nhân viên Lâm trường và một số hộ dân bên ngoài có nhu cầu để quản lý, bảo vệ phát triển rừng. Trong đó có giao cho ông Phan Thái T5 (chồng bà Võ Thị N) diện tích 12,4ha, thời gian sử dụng là 50 năm (từ năm 1994 đến năm 2044) tại Quyết định số 302/QĐ/UB.NP ngày 04/6/1994 của UBND huyện N. Diện tích 12,4 ha giao cho hộ ông Phan Thái T5 nói trên nằm ở 02 khu vực Đ và T Quốc lộ A. Trong đó:

  • Diện tích 10ha nằm về phía Đông Quốc lộ A. Trong đó: Theo Quyết định số 03/QĐTH ngày 10/7/1994 của Lâm trường N4 về việc thu hồi đất lâm nghiệp của hộ gia đình ông Phan Thái T5, giao lại cho bà Nguyễn Thị H2 05ha; còn lại 05ha Nhà nước đã thu hồi để xây dựng khu công nghiệp P theo Quyết định số 3118/QĐ-UBND ngày 26/12/2007 của UBND huyện N.
  • Về diện tích 2,4ha (trong đó 0,9ha cây Đ mà nông trường đã trồng trước đó) nằm về phí Tây Quốc lộ A. Đây là diện tích đất bà Võ Thị N ủy quyền cho ông Trần Công C khiếu nại.

Theo biên bản kiểm tra hiện trường và qua thẩm tra xác minh thì trong thời gian từ thàng 6/2003 đến tháng 8/2003 các ông Thiên Sanh L3, ông Bá A L4, ông B và ông Hán Văn T7 (ngoài ra ông Hán Văn T7 còn thuê ông Nguyễn Hồng N3 và Bạch Thanh Q) cùng cư ngụ thôn V xã P đến chặt phá rừng trồng (cây Đ) và chiếm đất đai trái phép đã được UBND huyện N giao cho hộ ông Phan Thái T5 tại Quyết định số 302/QĐ/UB.NP ngày 04/6/1994.

[3] Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trên cơ sở đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bà Đạo Thị Diệu H, ông Thiên Sanh T8 và ông Thiên Sanh L3 cùng ghi ngày 29/9/2004 kèm theo giấy chứng nhận (thừa kế) lập ngày 09/10/1994 (sửa ngày và tháng) có xác nhận của ông Não Văn S - Chủ nhiệm HTX N5 và ông Kiều Đại H3 - Chủ tịch UBND xã P ký ngày 14/10/1996 (Bản Phôtcoppy) (Trong giấy chứng nhận thừa kế không có tên bà Đạo Thị Diệu H). UBND xã P lập trích lục bản đồ vị trí khu đất đo bổ sung cho 3 hộ nói trên tại thửa số 63, tờ bản đồ số 38 Bản đồ địa chính xã P vào vào ngày 07/12/2004. Đến ngày 11/01/2005, ông Bá Văn T9 - Chủ tịch UBND xã P ký vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bà Đạo Thị Diệu H, ông Thiên Sanh T8, ông Thiên Sanh L3 với ý kiến là đất nông nghiệp có nguồn gốc rõ ràng, hiện đang sử dụng ổn định, không tranh chấp, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua thẩm tra xác định ông Thập Văn V2 và ông Kiều Công P3 cùng là cán bộ đại chính xã P đều thừa nhận các ông đã tự “lập khống hồ sơ”, cụ thể: Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất đai ngày 16/8/2004 (sửa tháng) để xét duyệt về nguồn gốc đất, tình trạng tranh chấp khiếu nại về đất đai, về quy hoạch sử dụng đất...cho 19 hộ gia đình, trong đó có hộ, ông Thiên Sanh T8 9.792m², Thiên Sanh L3 7.228m² và bà Đạo Thị Diệu H với diện tích 13.775m² tờ bản đồ số 38 thửa số 63... Đến ngày 28/3/2005 UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T8, ông lập và ngày 14/7/2004 cấp giấy chứng nhận cho hộ bà Đạo Thị Diệu H.

[4] Như vậy, phía nguyên đơn bà H, ông X không cung cấp được chứng cứ trực tiếp về nguồn gốc đất, trong khi đó theo sổ mục kê đất đai lưu trữ tại UBND xã P được xác lập ngày 03/02/1997 thì toàn bộ thửa đất số 63 với diện tích 31.408m² và thửa số 64 diện tích 26.010m² tờ bản đồ địa chính số 38 xã P (nay là xã P) được xác định là đất của Nông trường Thơm tàu, Đ. Trong đó diện tích đất 24.393m² (thửa 63 có diện tích 23.623m² và thửa 64 có diện tích 770m²) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Võ Thị N (có sổ lâm bạ, có Quyết định giao đất) và sử dụng ổn định từ năm 1994 đến năm 2003 thì bị chiếm đất trái phép như nêu trên.

[5] Tại Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của hộ bà Nguyễn Thị N2 đã công nhận việc bà Võ Thị N khiếu nại là đúng và đồng ý hủy bỏ 18 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thu hồi 13 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N đã cấp cho các hộ gia đình, cá nhân tại thửa số 13, tờ bản đồ số 38 Bản đồ địa chính xã P. Đồng thời khôi phục lại quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho hộ bà Võ Thị N. Ngày 10/9/2012 UBND huyện T đã ra Quyết định số 143/QĐ-UBND thu hồi GCNQSDĐ của hộ bà Đạo Thị Diệu H đối với thửa 63a. Ngày 30/9/2013 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 217947 (số vào sổ cấp GCN CH00218) cho bà Võ Thị N tại thửa số 63, tờ bản đồ số 38 diện tích 20.047m².

Đến năm 2018 ông X, bà H khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy Quyết định số 1808/QĐ-UBND và 143/QĐ-UBND của UBND huyện T. Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã đình chỉ giải quyết vì hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, Quyết định số 1808/QĐ-UBND và số 143/QĐ-UBND cho đến nay vẫn còn hiệu lực pháp luật. Như vậy, sự việc tranh chấp quyền sử dụng đất của bà H đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ số 71/2024/AL được công bố theo Quyết định số 119A/QĐ-CA ngày 15/5/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu buộc bà N trả lại cho ông X, bà H thửa 63a và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy Quyết định số 1808/QĐ-UBND và số 143/QĐ-UBND của UBND huyện T là đúng pháp luật.

[6] Đánh giá tổng hợp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ nêu trên thì có cơ sở kết luận phần đất tranh chấp nêu trên là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Võ Thị N. Do đó, vào ngày 10/02/2018 bà Võ Thị N lập các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 302; 303/HĐCNQSDĐ-VPCCAK tại Văn phòng C1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T3 diện tích 4904m², chuyển nhượng cho ông Đặng Chí L diện tích 1.419m² là đúng pháp luật nên các yêu cầu về hủy GCNQSDĐ cũng như hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của ông X, bà H không có cơ sở để chấp nhận.

[7] Đối với căn nhà cấp 4 diện tích 17,5m² và 22 cọc bê-tông của ông X, bà H trên phần diện tích đất tranh chấp, thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm thì ông X, bà H đều thừa nhận các tài sản này do ông, bà xây dựng vào năm 2018. Như vậy tại thời điểm này thì phần đất tranh chấp đã được công nhận cho bà Võ Thị N theo Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của UBND huyện T và bà N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013. Việc ông X bà H tạo lập các tài sản nêu trên vào năm 2018 khi không được sự cho phép của bà N là không phù hợp pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông X, bà H phải tháo dỡ căn nhà cấp 4 và 22 cọc bê-tông trên đất là có căn cứ.

[8] Với các tài liệu chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông X bà H và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[9] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà H ông X phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, xét ông Nguyễn X là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà Đạo Thị Diệu H, ông Nguyễn X;

Giữ nguyên Bản án dân sự số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

Căn cứ các điều 166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Án lệ số 71/2024/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H về việc buộc bà Võ Thị N phải trả lại cho ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H 5.465,3m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 38 xã P được xác định bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,19,20,13 theo trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ngày 27/5/2024.
  2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 và Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 10/9/2012 của Ủy ban nhân dân huyện T.
  3. Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 217947 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà Võ Thị N ngày 30/9/2013 đối với diện tích đất 5.465,3m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 38 xã P được xác định bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,19,20,13 theo trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ngày 27/5/2024.
  4. Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 302/HĐCNQSDĐ-VPCCAK giữa bà Võ Thị N và ông Đặng Chí L được Văn phòng C1 công chứng ngày 10/02/2018.
  5. Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 303/HĐCNQSDĐ-VPCCAK do bà Võ Thị N chuyển nhượng cho ông Nguyễn Xuân T3 được Văn phòng C1 công chứng ngày 10/02/2018.
  6. Buộc ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H phải tháo dỡ 01 căn nhà cấp 4 tường gạch, mái lợp tôn, diện tích 17,5m² và 22 cọc bê-tông trên diện tích 5.465,3m² thuộc một phần thửa 63, tờ bản đồ 38 xã P được xác định bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,19,20,13 theo trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N ngày 27/5/2024.
  7. Về chi phí đo đạc, định giá và cấp trích lục: Ông Nguyễn X, bà Đạo Thị Diệu H phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá tài sản và cấp trích lục là 4.882.000đ. Ông X, bà H đã nộp đủ số tiền này.
  8. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • 8.1. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn X.
    • 8.2. Buộc bà Đạo Thị Diệu H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000644 ngày 06/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đạo Thị Diệu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà H đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000106 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận vào phần án phí phải chịu (Đã nộp xong).

Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn X.

  1. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận;
  • - Đương sự (5);
  • - Lưu VP(3), HS.(20)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt.

  • Số bản án: 113/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger