Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn

Bà Phan Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Ngọc Á, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D N, Phường A, quận B, TP .; Chỗ ở: F đường V, Phường A, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Không rõ; Mẹ: Trương Thị Thanh T1 (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện cư trú tại: Số F đường V, Phường A, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Trương Văn T2, sinh năm 1959 (ông ngoại của bị cáo); Địa chỉ: Số F đường V, Phường A, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Q – Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 03/01/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Trương Ngọc Á đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán cho người khác; đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B đã chuyển đối tượng, hồ sơ vụ án cùng vật chứng và tài sản đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Trương Ngọc Á khai nhận: Bản thân Trương Ngọc Á không có việc làm ổn định, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, Á liên lạc với một người đàn ông có tài khoản Facebook là “Lê Tuấn V” (không rõ họ tên, địa chỉ, Á thường gọi là “T3”) hỏi mượn 200.000 đồng, T3 V nói Á đi bán ma túy sẽ trả công cho Á 300.000 đồng, Á đồng ý. Sau đó, Á đăng lên nhóm trên phần mềm Telegram (không nhớ rõ tên nhóm) nội dung “bán 06 viên ma túy với giá 1.300.000 đồng”. Một lúc sau, có người phụ nữ sử dụng tài khoản telegram tên “My Diễm” (không rõ họ tên địa chỉ, Á gọi là Diễm H) liên lạc với Á hỏi mua ma túy, Á đồng ý bán 06 viên ma túy cho My D với giá 1.300.000 đồng và hẹn giao dịch mua bán ma túy tại chung cư T, phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau đó, T3 V chở Á đến chung cư T, trên đường đi Tuấn V đưa Á 06 viên ma túy để bán, khi gần tới nơi Tuấn V quay xe đi còn Á cầm 06 viên ma túy đi bộ đến trước số B đường T, Phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chuẩn bị bán cho My D thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang như trên. Bản thân Á không sử dụng ma túy, đây là lần đầu tiên Ánh bán ma túy, mục đích bán ma túy để có 300.000 đồng, Á nhận thức rõ 06 viên nén màu cam trắng bị lực lượng chức năng thu giữ là ma túy (BL: 69-87).

Tại Bản kết luận giám định số 100/KLGĐ ngày 09/01/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu A gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp, khối lượng 1,1368 gam” (BL: 32-33).

Tại Cơ quan điều tra, Trương Ngọc Á thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên (BL: 41-67).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng và tài sản gồm:

+ 06 (sáu) viên nén không rõ hình, màu cam trắng, có logo in hình không rõ qua giám định có khối lượng 1,1368 gam không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp - đây là số ma túy Á đem đi bán cho “My Diễm”. Sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số 100 ngày 09/01/2024 của Phòng PC09- Công an tỉnh B.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số Imei 353976102555392- đây là điện thoại của Á dùng để liên lạc với tài khoản “Lê Tuấn V” và “ My Diễm” vào việc bán ma túy.

- Xử lý vật chứng: Toàn bộ số vật chứng và tài sản trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 75/CT-VKSTPVT ngày 20/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Trương Ngọc Á về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 06 (sáu) viên nén không rõ hình, màu cam trắng, có logo in hình không rõ. Sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số 100 ngày 09/01/2024 của Phòng PC09- Công an tỉnh B.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số Imei : 353976102555392- đây là điện thoại của Á dùng để liên lạc với tài khoản “Lê Tuấn V” và “ My Diễm” vào việc bán ma túy.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất quan điểm của kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh đáng thương của bị cáo (bị cáo không biết bố là ai, mẹ mất khi mới 3 tuổi, bị cáo từ nhỏ sống với ông bà ngoại, ông bà ngoại hiện nay rất đau yếu) để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của kiểm sát viên.

Bị cáo thống nhất ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 03/01/2024, tại trước nhà số B đường T, Phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Trương Ngọc Á đang có hành vi tàng trữ trái phép 06 viên nén không rõ hình, màu cam trắng, Á nhận thức đây là ma túy của đối tượng “Lê Tuấn V” (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho Á nhằm mục đích bán cho con nghiện hưởng tiền hoa hồng.

Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên, chưa có đầy đủ năng lực hành vi nhưng cũng biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Khi phạm tội, bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên (từ 16 đến dưới 18 tuổi) nên căn cứ Điều 91, Khoản 1 Điều 101 áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 06 (sáu) viên nén không rõ hình, màu cam trắng, có logo in hình không rõ. Sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số 100 ngày 09/01/2024 của Phòng PC09- Công an tỉnh B.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số Imei : 353976102555392- đây là điện thoại của Á dùng để liên lạc với tài khoản “Lê Tuấn V” và “ My Diễm” vào việc bán ma túy.

[6] Đối với đối tượng có tài khoản Facebook tên “Lê Tuấn V” cung cấp ma túy cho Á đi bán, và đối tượng “My Diễm” đã liên hệ mua ma túy, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Ngọc Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trương Ngọc Á: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày phải thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 06 (sáu) viên nén không rõ hình, màu cam trắng, có logo in hình không rõ. Sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số 100 ngày 09/01/2024 của Phòng PC09- Công an tỉnh B.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, số I : 353976102555392.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 147 /BB-CCTHADS ngày 29/3/2024.

4. Án phí: Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 HYPERLINK "https://thuvienphapluat.vn/van-ban/thue-phi-le-phi/Nghi-quyet-326-2016-UBTH14-muc-thu-mien-giam-thu-nop-quan-ly-su-dung-an-phi-le-phi-Toa-an-337085.aspx" \t "_blank" Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC 10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Ngọc Ánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger