|
TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HSST
Ngày: 25/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh T và ông Đoàn Văn M
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/4/2024, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/HSST ngày 11/4/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Việt H, sinh năm 1992; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Thôn I, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Nguyễn Nguyên H1 và bà Nguyễn Thị Kim L
Bị cáo có vợ là Bùi Thị T, sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án số 52/2013/HSPT ngày 26/8/2013 của TAND tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 07/10/2015.
Bị cáo tại ngoại - Có mặt
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2000 – Vắng mặt
Nơi ĐKNKTT: Thôn K, xã H, H, Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Nguyễn Việt H là bạn cùng quê với anh Nguyễn Văn N. Anh N có thuê trọ cùng anh Phạm Ngọc N1 và Vũ Việt H2 tại số D đường M, phường M, quận N, TP Hà Nội. Ngày 11/03/2023, anh N1 có về quê tại Tuyên Quang và để xe máy Honda Wave BKS: 22B2-404.49 ở phòng trọ để cho anh N mượn đến ngày 13/3/2023, anh N1 xuống Hà Nội sẽ lấy lại xe còn giấy tờ đăng ký xe thì anh N1 vẫn giữ. Khoảng 18 giờ ngày 11/3/2023, anh N đang ở phòng trọ thì Nguyễn Việt H đến và có hỏi mượn anh N chiếc xe máy trên để đi làm bên L do anh N có đơn đi bốc hàng tại L nhưng không đi và bảo H đi, anh N đồng ý và thỏa thuận bốc hàng xong về trả cho anh N. H đi làm đến 21 giờ cùng ngày thì về phòng trọ nhưng do N chưa về nên H ra quán nước ngồi. Tại quán nước, do H bị chủ nợ đòi nợ nên H nảy sinh ý định đem xe của anh N đi đặt để lấy tiền trả nợ. H sau đó gọi cho bạn là Nguyễn Quang D hỏi vay 2.000.000đ và đặt lại xe máy để bảo đảm, khi nào có tiền sẽ trả và lấy xe về. D đồng ý, H đem xe đến gặp và giao xe máy Honda Wave BKS 22B2-404.49 cho D và lấy tiền tại cổng phía sau bến xe M. Sau khi đặt xe vay tiền D xong thì D nhận được điện thoại của anh N gọi đòi xe nên H nói dối là mượn xe về quê đi đám cưới 2 – 3 ngày sẽ về trả, N đồng ý và yêu cầu ngày 13/3 phải mang xe về trả. Đến 03 ngày sau, anh N tiếp tục gọi đòi xe thì H nói đã đem xe đi cắm hẹn 20 ngày đến 01 tháng sẽ lấy về trả nhưng anh N không đồng ý và yêu cầu H mang xe về trả ngay nhưng do H đã tiêu hết số tiền cắm xe, không có khả năng lấy xe về trả cho N nên ngày 12/3/2024, H bắt xe bỏ vào thành phố Hồ Chí Minh làm lao động tự do và tắt liên lạc với N để không phải trả xe cho N.
Ngày 13/3/2023, anh N1 xuống Hà Nội và hỏi N xe thì N thông báo cho H mượn xe và liên lạc với H nhưng không được do H tắt liên lạc nên cả hai đã đã đến nhà H tại Tuyên Quang để đòi xe nhưng H không có nhà. Do không liên lạc được với H nên ngày 28/4/2023, anh N đã đến CQĐT trình báo.
Ngày 19/01/2024, H đã đến CQĐT đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Ngày 03/8/2023, anh Nguyễn Quang D do biết xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 22B2-404.49 liên quan đến vụ việc H đã lấy xe của người khác mang đi cầm cố cho D mà Công an quận N đang thụ lý giải quyết nên đã giao nộp xe cho cơ quan công an để tiến hành xác minh giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 136/KLĐGTS ngày 08/06/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N xác định xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: xanh đen bạc, BKS: 22B2-04.49, số máy: JA39E1120759, số khung: 3916KY260020 trị giá 8.400.000đ.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu sơn: xanh đen bạc, BKS: 22B2-404.49, quá trình điều tra xác định xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, đăng ký xe mang tên Đặng Tuấn L1 (SN: 2000; Địa chỉ: Xóm E, L, Y, Tuyên Quang). Anh L1 khai đã cho em trai là Phạm Ngọc N1 chiếc xe trên để sử dụng làm phương tiện đi lại từ năm 2022 nên anh L1 không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Ngày 30/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả chiếc xe máy Honda Wave, màu sơn: xanh đen bạc, BKS: 22B2-404.49 cho anh Nguyễn Văn N. Anh N và chủ sở hữu là anh Phạm Ngọc N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với anh Nguyễn Quang D, quá trình điều tra xác định khi H đưa xe cho D làm tin có nói nguồn gốc xe máy là của mẹ H, giấy tờ xe mẹ H cầm nên không có giấy tờ để đưa cho D, sau đó D đã đưa cho H vay số tiền 2.000.000đ, không yêu cầu lãi suất. Do D không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Ngày 3/8/2023, bà Nguyễn Thị Kim L là mẹ của H đã trả tiền cho D là 2.000.000đ, D không yêu cầu đề nghị bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSNTL ngày 29/3/2024 của VKSND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 69 ngày 29/3/2024 của VKSND quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra những người bị hại đã có lời khai thể hiện: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt đề nghị xét xử bị cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 18 giờ ngày 11/3/2023, tại số D đường M, phường M, quận N, Hà Nội, Nguyễn Việt H đã hỏi mượn xe máy Honda Wave BKS: 22B2-404.49, trị giá 8.400.000đ của anh Nguyễn Quang N2, xe thuộc sở hữu của anh Phạm Ngọc N1 để đi làm. Sau khi xong việc, do H thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 21 giờ cùng ngày H đã đi xe đến phòng trọ tại địa chỉ ngõ E L, P, N, Hà Nội đặt xe cho anh Nguyễn Quang D (sinh năm: 2001; HKTT: T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang) vay số tiền 2.000.000đ. H đã chi tiêu hết số tiền cầm cố xe và không có khả năng chuộc lại tài sản nên H đã bỏ trốn và cắt liên lạc với anh Nguyễn Văn N.
Bị cáo khai nhận tội. Tài sản đã thu hồi và trả lại bị hại. Anh Nguyễn Quang N2 và anh Nguyễn Quang D không có yêu cầu gì về dân sự.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng vào năm 2013 bị cáo đã bị xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 52/2013/HSPT ngày 26/8/2013 của TAND tỉnh Tuyên Quang. Đến nay đã được xóa án tích, nhưng đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người liên quan. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã một thời gian nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản";
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Việt H 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 113/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 113/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt H phạm tội " Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
