Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình:

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, ông Phan Minh Quốc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang; số điện thoại: 0337.752.xxx

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang, số điện thoại: 0355.991.xxx.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

Chị và anh K do tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân năm 2009, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Trong thời gian chung sống, do tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên bất hòa mặc dù đã tìm nhiều biện pháp hàn gắn nhưng không được nên cả hai đã quyết định sống ly thân, trong thời gian đó hai bên vẫn không thể hàn gắn tình cảm. Nay nhận thấy không thể tiếp tục duy trì hôn nhân nên chị T yêu cầu ly hôn với anh K.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/6/2014. Khi ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để chị T và anh K thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh K nhưng anh K đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho anh K nhưng anh K tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Tại phiên tòa: Chị T vẫn giữ nguyên yêu ly hôn với anh K; yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/6/2014; không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Anh K vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh K; giao cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/6/2014 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh K không cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu; tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn K và yêu cầu tiếp tục nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn K vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[3] Xét việc tranh chấp:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn K xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, không có tiếng nói chung mặc dù cả hai đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được nên chị yêu cầu ly hôn với anh K. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để hai bên có cơ hội hàn gắn nhưng anh K đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T đều đó cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Khiếu Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, chị T được ly hôn với anh K.

[3.2] Về con chung: Chị T trình bày trong quá trình chung sống chị và anh K có hai con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/6/2014. Hiện nay các con đang sống chung với chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng, quá trình giải quyết vụ án anh K không có ý kiến hay yêu cầu gì. Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu D và cháu N đã thể hiện nguyện vọng của các cháu là muốn tiếp tục sống chung với chị T. Nhận thấy chị T đủ điều kiện nuôi dạy các con chung và yêu cầu của chị phù hợp với nguyện vọng các con, do đó để các cháu được ổn định cuộc sống và tâm lý nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/6/2014 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc T1 phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Khiếu Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Khiếu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Khiếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/6/2014 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn K không cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Nguyễn Văn K và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Nguyễn Thị Ngọc T. Chị Nguyễn Thị Ngọc T và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013562 ngày 17/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, chị T không phải nộp thêm. Anh Nguyễn Văn K không phải chịu án phí.

    Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Định Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Ngọc T Ly Hôn Anh Nguyễn Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger