Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 113/2024/HSST

Ngày: 24/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Phương

Bà Vũ Kim Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Tùy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Thông báo hoãn phiên tòa số 442/TB-TA ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Minh V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1973 tại huyện B, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú: số nhà C, đường H, D, tổ F, khu phố A, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn H (đã chết); Con bà: Đỗ Thị P; Sinh năm 1934; Nghề nghiệp: không; Trú tại: thôn N, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội; Vợ: Đỗ Thị C - sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Công nhân; Trú tại: số nhà C, đường H, D, tổ F, khu phố A, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Con: có một con sinh năm 2000; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 10 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2024 đến nay; có mặt.

  2. Họ và tên: Bế Khánh C1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21 tháng 01 năm 1980 tại: huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: xóm P, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Bế Văn S (đã chết); Con bà: Cung Thị L; Sinh năm 1955; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: xóm P, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Sỹ Thị P1, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: xóm C, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội; Con: có hai con, con thứ nhất sinh năm 2009, con thứ hai sinh năm 2022; Anh em ruột: Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2024 đến nay; có mặt.

  3. Họ và tên: Chu Văn H1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1982 tại: huyện B, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú: khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Chu Văn S1; Sinh năm 1954; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con bà: Hoàng Thị X; Sinh năm 1960; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Cùng trú tại: thôn C, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; Vợ: Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1985; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trú tại: khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con: có hai con, con thứ nhất sinh năm 2007, con thứ hai sinh năm 2012; Anh em ruột: Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2024 đến nay; có mặt.

  4. Họ và tên: Hoàng Văn A1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 9 năm 1988 tại: huyện B, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú: thôn L, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn Đ; Sinh năm 1963; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà: Lê Thị H2; Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cùng trú tại: thôn L, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Viên chức y tế; Trú tại: thôn L, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội; Con: có ba con, con thứ nhất sinh năm 2011, con thứ ba sinh năm 2023; Anh em ruột: Gia đình bị cáo có bốn anh em, bị cáo là con thứ tư.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Ngày 06/3/2012 bị Công an phường P, Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 13/3/2024, tại phòng kỹ thuật trong lán xây dựng của Công trình xây dựng các Sở ban ngành tỉnh Cao Bằng thuộc tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an thành phố C bắt quả tang một nhóm đối tượng đang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh "chắn", gồm: Hoàng Minh V (sinh năm 1973, HKTT: số nhà C, đường H, tổ F, khu phố A, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh), Chu Văn H1 (sinh năm 1982, HKTT: khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ), Hoàng Văn A1 (sinh năm 1988, HKTT: Thôn L, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội) đều đang tạm trú tại tổ B, phường Đ, TP C, tỉnh Cao Bằng và Bế Khánh C1 (sinh năm 1980, trú tại xóm P, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng). Tổ công tác thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.340.000 đồng (năm triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng), 01 bộ bài gồm 100 lá bài và tạm giữ 9.642.000 đồng (chín triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn đồng) trên người các đối tượng cùng một số đồ vật khác để phục vụ công tác điều tra.

Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1, Hoàng Văn A1 đều là công nhân, kỹ sư xây dựng của công trình trụ sở các Sở ban ngành tỉnh Cao Bằng. Khoảng 10 giờ ngày 13/3/2024, do thời tiết mưa không thi công được nên cả bốn người đang ở trong lán xây dựng đã cùng nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh "chắn" bằng bộ bài có 100 lá bài. H1 là người đi mua bài rồi tất cả cùng ngồi vào đánh "chắn". Vị trí ngồi cụ thể từng người như sau: Từ cửa phòng đi vào V là người ngồi bên phải gần cửa, H1 ngồi bên trái V, A1 ngồi bên phải VC1 ngồi đối diện với V. Cả nhóm đánh bạc đến 11 giờ 15 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang thu giữ tổng số tiền 5.340.000 đồng (năm triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng), trong đó thu trước mặt Hoàng Minh V số tiền 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), Chu Văn H1 số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng), Bế Khánh C1 số tiền 1.260.000 đồng (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), Chu Văn A2 số tiền 2.080.000 đồng (hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Ngoài ra còn thu giữ trên người Hoàng Minh V số tiền 8.025.000 đồng (tám triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng), trên người Bế Khánh C1 số tiền 1.617.000 đồng (một triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng).

Về cách thức chơi đánh bạc cụ thể như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài đánh “chắn” gồm 100 lá bài chia thành 5 phần, mỗi phần 19 lá bài, 5 lá bài còn lại để bốc cái. Người được bốc cái sử dụng 5 lá bài đó gộp vào một phần bài bất kỳ rồi để vào trong đĩa (gọi là lọc để khi chơi, người chơi lần lượt rút các cây bài ở lọc lật lên để ăn hoặc ù) rồi người được bốc cái lấy từ trong phần bài lọc 01 lá bài bất kỳ nào đó và để vào 1 trong 4 phần bài còn lại rồi lấy một lá bài bất kỳ trong phần bài đó lật lên để xác định người nào được lấy phần bài đó và người đó được gọi là cái, người được cái là người được đánh trước (đánh theo vòng phía tay phải). Sau khi bốc cái mỗi người nhận cho mình một phần bài và xếp bài, người có cái đánh trước các nhà tiếp theo sẽ ăn hoặc bốc bài dưới lọc để đánh tiếp cho đến khi có nhà ù. Quy định về chắn và cạ: Chắn là tổ hợp gồm có 02 cây bài giống nhau cả về hàng và chất; cạ là 02 cây cùng hàng với nhau nhưng khác chất. Khi bài có đủ 05 chắn và đủ cạ thì cây bài bốc ở dưới lọc phải cùng hàng và cùng chất với cây bài chờ ù trên bài thì mới được ù, còn khi bài đã có đủ 06 chắn trở lên và đủ cạ thì cây bài bốc ở dưới lọc chỉ cần cùng hàng với cây bài chờ ù trên bài thì được ù. Quy định về cước ù: mỗi cước được quy định tương ứng với số điểm và dịch. Khi ù (xướng đúng) dựa vào cước xướng sẽ tính ra số điểm tổng, nhân tổng này với số tiền cho mỗi điểm sẽ ra số tiền mỗi người thua phải mất. Điểm tổng được tính: nếu chỉ xướng 01 cước thì điểm tổng bằng điểm của cước đó; nếu xướng nhiều cước thì điểm tổng bằng điểm của cước có điểm lớn nhất cộng với tổng số dịch của các cước còn lại. Ù to nhất là “kính tứ chỉ” thì được 12 điểm và 09 dịch; tiếp đến là ù “tám đỏ” thì được 08 điểm và 05 dịch; ù “bạch định” thì được 07 điểm và 04 dịch ...và ù thấp nhất là ù “xuông” được 02 điểm. Quy định mỗi ván ù thì người ù căn cứ bài trên tay để tính điểm theo quy định trên, mỗi điểm tương ứng với 10.000 đồng (mười nghìn đồng), người ù sẽ nhận tiền từ những người chơi còn lại theo số điểm và số tiền tương ứng.

Quá trình đánh bạc, không có sự thay đổi về vị trí ngồi và hình thức đánh bạc, không có ai thu tiền hồ, không phân công hoặc nhờ người khác canh gác, ngoài bốn người chơi ra thì không còn ai khác. Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định số tiền thu giữ trên người Bế Khánh C1 có mục đích sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, còn số tiền thu giữ trên người Hoàng Minh V không liên quan đến hành vi đánh bạc. Tổng số tiền các bị can sử dụng đánh bạc trái phép ngày 13/3/2024 là 6.957.000 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng), trong đó số tiền thu trên chiếu bạc là 5.340.000 đồng (năm triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền trên người bị can là 1.617.000 đồng (một triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng).

Đối với các vật chứng, đồ vật Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị can xác định có liên quan đến hành vi đánh bạc, do đó cần tiếp tục tạm giữ để phục vụ việc truy tố, xét xử và thi hành án. Đối với các vật chứng quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả cho chủ sở hữu.

Hành vi của các bị can Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1Hoàng Văn A1 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 102/CT-VKSTP ngày 10/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1Hoàng Văn A1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đều khai nhận không có ai là người chủ động rủ đánh bạc, mà do trời mưa không thi công được nên cả 4 bị cáo rủ nhau chơi “chẳn”.

Về tài sản bị tạm giữ: Các bị cáo xác nhận đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C trả lại điện thoại và không có ý kiến gì thêm.

Trong số tiền bị thu giữ là 14.982.000 đồng có 5.340.000 đồng thu trên chiếu bạc, 1.617.000 đồng thu giữ của bị cáo C1 có mục đích sử dụng để đánh bạc nếu chơi thua, số tiền còn lại là 8.025.000 đồng là tiền của bị cáo V, không liên quan đến hành vi phạm tội nên bị cáo V đề nghị được trả lại.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1Hoàng Văn A1.

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1, Hoàng Văn A1 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị phạt tiền các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, phạt tiền bị cáo Hoàng Văn A1 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài gồm 100 lá bài;
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.957.000 đồng do các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
  • - Trả lại cho bị cáo V số tiền 8.025.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận, các bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến tranh luận khác với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 13/3/2024, tại phòng kỹ thuật trong lán xây dựng của công trình xây dựng các Sở ban ngành tỉnh Cao Bằng thuộc tổ B, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an thành phố C bắt quả tang Hoàng Minh V, B, Chu Văn H1Hoàng Văn A1 đang đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh "chắn"; số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 5.340.000 đồng (năm triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền trên người bị cáo Hoàng Minh V dùng để đánh bạc là 1.617.000 đồng (một triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 6.957.000 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Đánh giá vai trò đồng phạm:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận không có ai là người chủ động rủ rê, lôi kéo tham gia đánh bạc, mà do trời mưa không thi công được nên các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này, các bị cáo đều đóng vai trò như nhau và phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau đối với hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến nhân thân của các bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1 đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Hoàng Văn A1 có 01 tiền sự nhưng đã được xóa. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, các bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt:

Hội đồng xét xử xét thấy: Tội đánh bạc thuộc nhóm tội phạm xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội, các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1 đều là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền các bị cáo đánh bạc không lớn, hành vi của các bị các chưa đến mức phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo, làm gương cho những người có ý định phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt đối với các bị cáo.

Bị cáo Hoàng Văn A1 đã từng bị xử phạt hành chính nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn so với các bị cáo còn lại.

Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về tài sản và xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 bộ bài gồm 100 lá bài là phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Các bị cáo sử dụng số tiền 6.957.000 đồng để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Số tiền 8.025.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo V.

[7] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1, Hoàng Văn A1.

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1, Hoàng Văn A1 phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt: Phạt tiền các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1, mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Hoàng Văn A1 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài 100 lá bài;
  • - Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: số tiền 6.957.000 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng) trong Tiền Việt Nam: 14.982.000 đồng (mười bốn triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng). Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 27 ngày 13/6/2024.
  • - Trả lại cho bị cáo Hoàng Minh V: số tiền 8.025.000 đồng (tám triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) trong Tiền Việt Nam: 14.982.000 đồng (mười bốn triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng). Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 27 ngày 13/6/2024. Nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

Xác nhận: số vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 134 ngày 05/7/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Hoàng Minh V, Bế Khánh C1, Chu Văn H1, Hoàng Văn A1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị

Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 113/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Minh V và đồng phạm - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger