Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày: 23-8-2024

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Xuân Phúc

2/ Ông Phạm Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 17/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 26/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân T (tên gọi khác: N), sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: số A T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: số A T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh khách sạn; Học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân P và bà Trương Thị Kim D; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023 (Có mặt)

  3. Lê Thị Thu N1; sinh năm 1998 tại tỉnh Long An; Hộ khẩu thường trú: ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở: số C H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lễ tân khách sạn; Học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn L và bà Chung Thị Ngọc L1; Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2023 (Có mặt).

  5. Dương Diễm N2; sinh năm 2000 tại tỉnh Bạc Liêu; Hộ khẩu thường trú: ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: số B T, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Quản lý khách sạn; Học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Quốc N3 và bà Nguyễn Kiều P1, Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023 (Có mặt)

  7. Đào Đình Tuấn A; sinh năm 1993 tại tỉnh Hải Dương; Hộ khẩu thường trú: Tổ C, thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Khách sạn F, số H L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Quản lý khách sạn; Học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Đình T1 và bà Phạm Thị H, Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
  8. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023 (Có mặt).

  9. Phạm Thùy N4; sinh năm 2002 tại tỉnh Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: P, nhà số I Khu dân cư D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Nội trợ; Học vấn: 7/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H1 và bà Phạm Thị T2; C sống như vợ chồng với Nguyễn Minh H2, có một con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
  10. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/11/2023 (Có mặt)

  11. Nguyễn Minh H2 (tên gọi khác: Cu); sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: ấp B, tổ G, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: P, nhà số I Khu dân cư D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị N5; C sống như vợ chồng với Phạm Thùy N4; Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
  12. Bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2023 (Có mặt).

Những người tham gia tố tụng:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân T:

  1. Ông Phạm Ngọc H3, Luật sư của Công ty L2 – thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (Vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn H4, Luật sư của Công ty L2 – thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Thị T3, sinh năm 2005; Thường trú: thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: số H L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  2. Đinh Hải Y, sinh năm 2002; Thường trú: bản Đẩy, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Chỗ ở: Chung cư T tầng 15 T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  3. Ông Phạm Anh T4, sinh năm 1984; Thường trú: số A L, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
  4. Cà Thị N6, sinh năm 2003; Thường trú: bản H, huyện M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: P, Lock C, Chung cư S, Đường số I, khu dân cư T, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Anh T5, sinh năm 1986; Thường trú: ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
  6. Mai Vân A1, sinh năm 2001; Thường trú: thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: 0912A Lô C, Chung cư K, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  7. Ông Phạm Trung H5; sinh năm 1996; Thường trú: ấp B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
  8. Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1982; Thường trú: 7 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: D Chung cư C T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  9. Nguyễn Thị Ngọc T6, sinh năm 1993; Thường trú: số A ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An; Chỗ ở: A C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  10. Ông Phạm Khánh N7, sinh năm 1996; Thường trú: 408 Lô K, Đường S, Cư Xá B, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B V Trong, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  11. Nguyễn Thị Mỹ T7, sinh năm 2002; Thường trú: thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: số F T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  12. Ông Từ Đức T8, sinh năm 1988; Thường trú: ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
  13. Ông Phạm Khắc H6, sinh năm 2002; Thường trú: xóm K, xã N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: số F T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  14. Đặng Thị Y1, sinh năm 1981; Thường trú: I2-24.01 Khối I H, số B đường C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: I Khối I H, số B đường C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  15. Ông Ngô Đức N8, sinh năm 1988; Thường trú: 336/27/4 N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: P Chung cư V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 16 giờ ngày 16/11/2023, Đ1 Công an Q phối hợp cùng Công an T13Công an P4, Quận A, kiểm tra hành chính Khách sạn F, số H L, Phường A, Quận A, do Lê Thị Thu N1 đang làm lễ tân của Khách sạn, phát hiện 05 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại Khách sạn, cụ thể: Phòng 403: Lê Thị T3Phạm Anh T4; Phòng 502: Cà Thị N6Nguyễn Tuấn A2; Phòng 503: Đinh Hải YPhạm Trung H5; Phòng 401: Nguyễn Đức MMai Vân A1; tại Phòng 603: Nguyễn Thị Ngọc T6Phạm Khánh N7. Ngân biết các gái bán dâm Lê Thị T3, Cà Thị N6, Đinh Hải Y, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6 thuê phòng của Khách sạn để bán dâm cho khách mua dâm tại Khách sạn F1. Công an P4, Quận A đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối Lê Thị Thu N1.

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 16/11/2023, Đội Cảnh sát hình sự Đ1 phối hợp Công an T13Công an P4, Quận A, kiểm tra hành chính Khách sạn B, số F T, Phường A, Quận A, do Phạm Khắc H6 đang làm lễ tân, phát hiện tại Phòng 202 của Khách sạn, Từ Đ đang mua bán dâm với Nguyễn Thị Mỹ T9. H6 khai biết Nguyễn Thị Mỹ T7 thuê phòng của Khách sạn để bán dâm. Công an P4, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối Phạm Khắc H6.

Tại cơ quan điều tra Lê Thị T3, Đinh Hải Y, Cà Thị N6 khai để bán dâm Thuỳ, Y, N6 đã gửi gửi thông tin, hình ảnh, số điện thoại, giá bán dâm... cho tài khoản tên zalo “Vâu” để đăng bài, quảng cáo bán dâm trên 02 trang web www.gaito.iswww.gaigu10.tv Mỗi tháng, T3 chuyển khoản 24.000.000 đồng, Y chuyển 12.000.000 đồng, N6 chuyển 17.000.000 đồng là tiền môi giới bán dâm vào tài khoản số 67010001403448 tên Nguyen Minh H7 tại Ngân hàng B1 và tài khoản số 2676827 tên Pham T tại Ngân hàng A5 để thanh toán tiền môi giới bán dâm cho người có tài khoản zalo tên “Vâu”. Để bán dâm Y, N6, T3 đến Khách sạn F, số H L, Phường A, Quận A thuê phòng ở lâu dài để bán dâm tại Khách sạn và được Lễ tân Khách sạn cho T3 thuê Phòng 202; Y và Năm thuê Phòng 102 của Khách sạn, với giá 200.000 đồng/phòng/ngày. Khi có khách liên hệ mua dâm thì Y, Năm, T3 hẹn khách đến Khách sạn F thuê phòng rồi qua phòng của khách thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khoảng 16 giờ ngày 16/11/2023, khi Y, N6, T3 đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại Khách sạn F1 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên.

Tại Cơ quan điều tra Mai Vân A1 khai: Khoảng tháng 8/2023, Vân A1 gửi thông tin, hình ảnh, số điện thoại, giá bán dâm cho người tên “Jack” để đăng bài môi giới bán dâm cho Vân A1 trên trang web: www.gaito.is mỗi tháng Vân A1 sẽ chuyển số tiền môi giới là 21.000.000 đồng cho “Jack”, tuỳ theo yêu cầu của “J” sẽ chuyển khoản tiền vào 01 trong các tài khoản sau đây, tài khoản số 6666048386 tên Lê Hoàng Bảo P2 tại Ngân hàng S1; tài khoản số [...] tên Đặng Thị Ngọc N9 tại Ngân hàng V; tài khoản số 35881966688 tên Nguyễn Lê Minh A3 tại Ngân hàng T14; tài khoản số 1013939969 tên Phi Thu H8 tại Ngân hàng V1 và tài khoản số 03601014998182 tên Trần Thị Tố U tại Ngân hàng M3. Khoảng đầu tháng 7/2023, Vân A1 liên hệ với Nguyễn Xuân T thuê phòng Khách sạn F để bán dâm tại Khách sạn. T đồng ý và cho Vân A1 thuê với giá 100.000 đồng/phòng/ngày, không qua đêm. Hàng ngày, Vân A1 đến gặp lễ tân của Khách sạn thuê phòng từ khoảng 12 giờ đến khoảng 19 giờ, để bán dâm tại Khách sạn. Khi có khách mua dâm liên hệ, Vân A1 hẹn khách đến Khách sạn F1 thuê phòng rồi Vân A1 qua phòng của khách thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khoảng 16 giờ ngày 16/11/2023, Vân A1M đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại Khách sạn F thì phát hiện.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị Ngọc T6 khai nhận: Khoảng tháng 7/2023, T6 gửi thông tin, hình ảnh, số điện thoại, giá bán dâm cho tài khoản Zalo “Doner Kebab Miss Q” để đăng bài môi giới bán dâm cho T6 trên trang Web:www.gaito.is mỗi tháng Thơ chuyển khoản số tiền từ 3.500.000 đồng đến 5.000.000 đồng tiền môi giới, vào tài khoản số 19033344266014 tên Hà Trọng T10 tại Ngân hàng T15. Khoảng đầu tháng 7/2023, T6 liên hệ với Nguyễn Xuân T thuê phòng tại Khách sạn F để đi bán dâm tại Khách sạn. T đồng ý và cho T6 thuê với giá 100.000 đồng/phòng/ngày. Hàng ngày, T6 đến gặp lễ tân của Khách sạn thuê phòng từ khoảng 15 giờ đến khoảng 20 giờ, để bán dâm tại Khách sạn. Khi có khách mua dâm liên hệ, T6 hẹn khách đến Khách sạn F1 thuê phòng rồi T6 qua phòng của khách thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm. Ngày 16/11/2023, T6 thuê Phòng 402, khách sạn F để ở; Khoảng 16 giờ ngày 16/11/2023, khi T6N7 đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại Phòng 603, Khách sạn F thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Nguyễn Thị Mỹ T7 khai: Khoảng đầu tháng 10/2023 đi chụp hình khoả thân tại quận G, sau đó gửi hình ảnh, số điện thoại, giá bán dâm cho tài khoản Zalo tên “Vâu” để đăng thông tin quảng cáo, môi giới bán dâm cho T7 trên trang www.gaito.is T7 chuyển tiền môi giới tổng cộng 25.500.000 đồng vào tài khoản số 67010001403448 tên Nguyen Minh H7 tại Ngân hàng BIDVvà tài khoản số 2676827 tên Pham T tại Ngân hàng A5 để thanh toán tiền mối giới bán dân cho người có tài khoản zalo tên “Vâu”. Khoảng 05 giờ ngày 08/11/2023, T7 đến Khách sạn B, gặp lễ tân tên H1 thuê phòng ở để đi làm. T7 không nói cho lễ tân Phạm Khắc H6 biết việc T7 thuê phòng để đi bán dâm tại Khách sạn. Khi khách mua dâm liên hệ T7 hẹn khách đến Khách sạn B thuê phòng, rồi T7 sẽ qua phòng của khách thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khoảng 15 giờ ngày 16/11/2023, khi T7T8 đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại Phòng 202, Khách sạn B thì bị Công an Q vào kiểm tra bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phan Anh T11, Nguyễn Tuấn A2, Phạm Trung H5, Nguyễn Đức M, Phạm Khánh Nguyên k, để tìm gái bán dâm đã vào trang web www.gaito.iswww.gaigu.tv, có đăng hình ảnh, giá bán dâm, số điện thoại của gái bán dâm, nên đã trực tiếp gọi cho gái bán dâm thoả thuận mua bán dâm và được gái bán dâm hẹn đến Khách sạn F1, thuê phòng để mua bán dâm, khi đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an kiểm tra phát hiện.

Từ Đức T8 khai vào chiều ngày 16/11/2023, thông qua trang web “gaito.is và gaigu.tv", T8 thấy có hình ảnh, thông tin, số điện thoại, giá bán dâm của T7 nên đã liên hệ mua dâm và được hẹn đến Khách sạn B để mua bán dâm với T7.

Kết quả xác minh tài khoản số 67010001403448 tại Ngân hàng B1, do Nguyễn Minh H2, địa chỉ xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, là chủ tài khoản. Tài khoản ngân hàng S2 tại ngân hàng A5 do Phạm Thùy N4, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, là chủ tài khoản.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố bị can đối với Phạm Thùy N4, khởi tố bắt tạm giam đối với Nguyễn Minh H2 về hành vi “Môi giới mại dâm”. Khởi tố bắt tạm giam đối với Nguyễn Xuân T, Dương Diễm N2, Đào Đình Tuấn A, Lê Thị Thu N1 về hành vi “Chứa mại dâm”.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q Phạm Thùy N4, Nguyễn Minh H2, Nguyễn Xuân T, Dương Diễm N2, Đào Đình Tuấn A, Lê Thị Thu N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể như sau:

Khoảng đầu năm 2021, N4 truy cập vào trang web: www.gaito.is lập tài khoản với tên “Vâu”, với phí mở tài khoản là 23.000.000 đồng được quy đổi thanh toán bằng tiền ảo “PM Voucher” và đăng ký một tài khoản miễn phí tên M1 trên trang www.gaigu.tv để đăng bài môi giới cho gái bán dâm đi bán dâm. Để đăng bài môi giới cho gái bán dâm trên các web :www.gaito.iswww.gaigu.tvhàng tháng Nhiêu phải trả bằng tiền ảo "PM Voucher" quy đổi ra tiền Việt Nam đồng với mức phí tương đương là: đăng bài trên trang www.gaito.is02 lần giá bán dâm thể hiện trên trang web; đăng bài trên www.gaigu.tvbằng giá bán dâm thể hiện trên trang web. Nhiêu sử dụng số điện thoại 0868.838.xxx đăng ký zalo, nick là “Vâu” liên hệ, trao đổi với gái bán dâm để nhận hình ảnh và các thông tin như số điện thoại, giá bán dâm... từ gái bán dâm gửi. Sau đó, N4 biên soạn bài và sử dụng tài khoản tên “Vâu” đăng bài quảng cáo môi giới bán dâm với các hình ảnh, số điện thoại...lên 02 trang web: www.gaito.iswww.gaigu.tvTiền môi giới bán dâm hàng tháng gái mại dâm trả cho N4 gấp 04 lần mức giá bán dâm đăng trên trang web. Thanh toán bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản số 2676827 tại Ngân hàng A5, do Phạm Thùy N4 là chủ tài khoản và tài khoản số 67010001403448 tại Ngân hàng B1, do Nguyễn Minh H2 là chủ tài khoản. Tại thời điểm phát hiện N4 đã sử dụng tài khoản “Vâu” đăng 38 bài quảng cáo môi giới cho gái bán dâm trên trang web www.gaito.isđăng 11 bài quảng cáo môi giới cho gái bán dâm trên trang web www.gaigu.tvTrong đó có đăng bài quảng cáo môi giới cho 04 gái bán dâm là: Nguyễn Thị Mỹ T7 – nick Yến Nhi; Lê Thị T3 - nick Diệu A4; Đinh Hải Y – nick Khánh H9 và Cà Thị N6 – nick M4; Cả 04 gái bán dâm đều yêu cầu N4 đăng trên 02 trang wed nêu trên và đã chuyển khoản vào tài khoản của H2N4 để trả tiền phí môi giới bán dâm cho N4. Nhiêu với H2 có quan hệ tình cảm với nhau, H2 biết N4 môi giới cho gái mại dâm thông qua các trang mạng. N4 nói với H2 việc sử dụng tài khoản của người nam nhận tiền môi giới, quản lý bài đăng sẽ uy tín hơn nhằm lôi kéo nhiều gái bán dâm liên hệ đăng bài. H2 đồng ý và đưa số tài khoản số 67010001403448 mở tại Ngân hàng B1, do H2 là chủ tài cho N4 dùng để nhận tiền môi giới mại dâm. Khi nhận được tiền H2 chuyển qua ví điện tử Momo của N4. H2 giữ lại một ít để chi tiêu cá nhân. Số tiền N4, H2 đã thu lợi bất chính được là 61.950.000 đồng.

Nguyễn Xuân T khai: Khách sạn F, do TNgô Đức N8 cùng nhau góp vốn kinh doanh. Nguyên đứng tên giấy phép kinh doanh. T trực tiếp quản lý điều hành hoạt động kinh doanh Khách sạn. Khách sạn cho thuê phòng với giá từ 1.100.000 đồng đến 1.800.000 đồng/ngày. Quản lý khách sạn là Dương Diễm N2, nhiệm vụ là quản lý tình hình hoạt động của Khách sạn; Lễ tân gồm có Lê Thị Thu N1 làm ca sáng từ 07 giờ đến 19 giờ hàng ngày và Đào Đình Tuấn A làm ca tối từ 19 giờ đến 07 giờ sáng hôm sau, nhiệm vụ lễ tân là theo dõi cho thuê phòng, nhận trả phòng, thu tiền phòng. Khoảng tháng 7/2023, các gái bán dâm Mai Vân A1, Nguyễn Thị T6 liên hệ với T thuê phòng để bán dâm tại Khách sạn F. T đồng ý và cho gái bán dâm thuê phòng với mức giá 100.000 đồng/ngày không qua đêm. T nói với Vân A1, T6 khi đến khách sạn nói tên của T thì lễ tân sẽ nhận. Sau đó T báo cho N1 để nhận Vân A1T6. Đồng thời T dặn N2, N1, Tuấn A khi có gái bán dâm đến thuê phòng ở lại để bán dâm tại Khách sạn thì báo cho T biết để T quyết định, đối với những gái bán dâm thuê theo ngày thì chỉ báo lần đầu, những ngày sau không cần báo. Khi gái bán dâm Cà Thị N6, Đinh Hải Y, Lê Thị T3 đến thuê phòng để bán dâm, Tuấn A báo cho TT đồng ý cho thuê với giá 200.000 đồng/ngày đêm. Khách sạn để các Phòng 102, 202, 302, 402 cho các gái bán dâm thuê và điều chỉnh giá tiền trên hệ thống đối với các phòng trên. Các gái bán dâm đến thuê phòng để ở Khách sạn, khi có khách mua dâm liên hệ gái bán dâm sẽ yêu cầu khách mua dâm đến Khách sạn thuê phòng, sau đó gái bán dâm vào phòng khách thuê để bán dâm. T có nói với Ngô Đức N8 việc cho gái bán dâm ở để đi bán dâm tại Khách sạn để tăng doanh thu và N8 đồng ý. Mục đích T cho gái bán dâm ở tại Khách sạn nhằm tăng doanh thu từ việc khách mua dâm đến thuê phòng tại khách sạn để mua bán dâm. T thu lợi bất chính khoảng 15.000.000 đồng từ việc cho khách mua dâm thuê phòng.

Bị can Dương Diễm N2 khai nhận phù hợp với lời khai của bị can T về việc cho gái bán dâm thuê phòng ở tại khách sạn F2 để bán dâm tại khách sạn. N2 làm quản lý tại khách sạn từ đầu tháng 8/2023, N2 biết Lê Thị T3, Cà Thị N6, Đinh Hải Y, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6 thuê phòng để bán dâm tại khách sạn. N2 có báo cho T biết và T đồng ý cho gái bán dâm thuê giá 200.000 đồng/ngày đêm và 100.000 đồng ban ngày. Trong thời gian làm việc N2 thấy Ngô Đức N8 có đến Khách sạn một hai lần rồi đi. N2 không nói cho N8 biết việc Khách sạn cho gái bán dâm thuê phòng ở để bán dâm tại Khách sạn. Ngoài nhận lương 13.000.000 đồng/tháng thì N2 không được hưởng gì thêm từ việc chứa mại dâm.

Bị can Lê Thị Thu N1 có lời khai phù hợp với lời khai của T về việc cho gái bán dâm ở tại Khách sạn F để bán dâm tại Khách sạn. Ngân làm lễ tân Khách sạn từ tháng 8/2023, việc cho gái bán dâm ở Khách sạn là theo chỉ đạo của Nguyễn Xuân T. N1 biết Lê Thị T3, Cà Thị N6, Đinh Hải Y, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6 thuê phòng để bán dâm tại Khách sạn. Ngoài tiền lương 9.000.000 đồng/tháng N1 không được T cho thêm khoản tiền nào khác. N1 không nói cho Ngô Đức N8 biết việc Khách sạn cho gái bán dâm ở để bán dâm tại Khách sạn.

Đào Đình Tuấn A có lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Xuân TDương Diễm N2, Lê Thị Thu N1 về việc cho gái bán dâm thuê phòng ở tại Khách sạn F để bán dâm. Tuấn A làm lễ tân từ tháng 07/2023, Tuấn A biết Lê Thị T3, Cà Thị N6, Đinh Hải Y, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6 thuê phòng để bán dâm tại khách sạn. Khi có gái bán dâm đến thuê phòng thì Tuấn A có báo cho T biết và T đồng ý. Ngoài tiền lương 9.000.000 đồng/tháng thì Tuấn A không được hưởng khoản tiền nào khác. Tuấn A không nói cho ông Ngô Đức N8 biết việc Khách sạn cho gái mại dâm ở để bán dâm tại Khách sạn.

Ngô Đức Nguyên khai khách sạn F do N8 đứng tên giấy phép kinh doanh, tháng 07/2023 Nguyễn Xuân T góp vốn cải tạo lại Khách sạn và chia lợi nhuận. N8T thoả thuận giao cho T quản lý điều hành chung. Nguyên thỉnh thoảng mới đến Khách sạn rồi về, không tham gia quản lý. T sẽ báo doanh thu Khách sạn và chuyên khoản lợi nhuận cho N8. Nguyên hoàn toàn không biết việc T cho gái bán dâm thuê ở để bán dâm tại tại Khách sạn. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho N8T đối chất nhưng không rõ được mâu thuẫn.

Đặng Thị Y1, là chủ khách sạn B, số F T, Phường A, Quận A, khai: Tháng 9/2022, Y1 có thuê Thông M2 Nguyễn làm quản lý Khách sạn B. Bà Y1 không có chủ trương và không biết có gái bán dâm thuê phòng ở để đi bán dâm trong Khách sạn B.

Thông Minh Nguyễn khai: Nguyễn không có chủ trương cho gái thuê phòng ở Khách sạn B để bán dâm tại Khách sạn. N10 không biết T7 thuê phòng ở để đi bán dâm cho khách tại Khách sạn B. Khi Công an kiểm tra phát hiện sự việc T7 bán dâm cho khách tại khách sạn B thì Nguyễn mới biết.

Nguyễn Văn H10 khai, làm lễ tân tại Khách sạn B từ tháng 01/2023, làm ca từ 20 giờ ngày hôm trước đến 08 giờ sáng ngày hôm sau. Khoảng 05 giờ ngày 08/11/2023, Nguyễn Thị Mỹ T7 đến hỏi thuê phòng tại Khách sạn B để đi làm. H10 cho T7 thuê Phòng 301, H10 nói T7 ở đến trưa thì H10 tính giá 100.000 đồng. Đến trưa ngày 08/11/2023, H10 gọi điện lên Phòng 301 hỏi thì T7 nói thuê phòng ở dài ngày để đi làm nên Hải báo giá phòng cho T7 thuê là 300.000 đồng/ngày đêm. H10 nhập số Phòng 301 vào hệ thống với giá cho thuê là 300.000 đồng/ngày đêm. H10 hoàn toàn không biết T7 thuê phòng ở Khách sạn để đi bán dâm cho khách. Khi Công an mời H10 đến làm việc thì H10 mới biết T7 thuê phòng ở đê đi bán dâm cho khách tại khách sạn B.

Phạm Khắc H6 khai, làm lễ tân tại khách sạn B từ tháng 10/2023, làm ca 08 giờ đến 20 giờ. Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai các ngày 17, 20/11/2023, H6 khai biết T7 thuê phòng để đi bán dâm tại Khách sạn B. Ngày 22/11/2023, H6 khai làm lễ tân hết ngày 08/11/2023 thì xin nghỉ về quê đến ngày 13/11/2023 đi làm lại. H6 không cho T7 thuê phòng. Nguyễn Thị Mỹ T7 do lễ tân Nguyễn Văn H10 nhận cho thuê trước đó. H6 không biết T7 đến thuê phòng ở để đi bán dâm tại Khách sạn. Ngày 13/11/2023, khi H6 vào nhìn qua camera của Khách sạn thấy T7 vào phòng do khách nam thuê giờ nên nghĩ là T7 bán dâm, không ai nói cho H6 biết T7 bán dâm trong Khách sạn. Khoảng 15 giờ ngày 16/11/2024, Từ Đức T8 đến thuê Phòng 202 của Khách sạn B, khi thuê phòng T8 không nói cho H6 thuê phòng để mua dâm với gái. Sau khi giao chìa khóa phòng thì H6 đi vệ sinh nên H6 không biết T7 vào Phòng 202. Khi Công an vào kiểm tra phát hiện T7T8 đang mua bán dâm tại Phòng 202 thì H6 mới biết. Từ khi vào làm thì không có gái bán dâm nào đến hỏi H6 thuê phòng ở để bán dâm cho khách tại Khách sạn. H6 không biết ai là người có chủ trương cho gái bán dâm ở. H6 không thu tiền gì của T7 khi ở tại khách sạn. Ngày 21/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định trả tự do cho Phạm Khắc H6.

Kết quả xác minh các tài khoản ngân hàng Mai Vân A1 khai chuyển tiền môi giới mại dâm:

  • Tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 số 6666048386 do Lê Hoàng Bảo P2, sinh năm: 1998; thường trú: Khu C, V, T, TP Hà Nội đứng tên chủ tài khoản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã xác minh tại Công an xã V, huyện T, TP Hà Nội về đương sự Lê Hoàng Bảo P2 nhưng chưa có kết quả xác minh.
  • Tài khoản Ngân hàng TMCP H12 số 03601014998182 do Trần Thị Tố U, sinh năm: 1985; thường trú: 52 Â, phường H, Quận H, TP Hà Nội đứng tên chủ tài khoản. Xác minh tại Công an phường H, quận H, TP Hà Nội được cung cấp: Trần Thị Tố U, số CCCD [...] không có đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú tại E Â, phường H, Quận H, TP Hà Nội.
  • Tài khoản Ngân hàng TMCP N13 Chi nhánh T16 số 1013939969 do Phí Thu H11, sinh năm: 2001; thường trú: P, K, Hải Dương, đứng tên chủ tài khoản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xác minh tại Công an xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương xác minh đương sự Phí Thu H11 nhưng chưa có kết quả trả lời.
  • Xác minh tài khoản Ngân hàng T15 số 19033344266014 nhận tiền môi giới bán dâm của Nguyễn Thị Ngọc T6, kết quả: Tài khoản do Hà Trọng T12, sinh năm: 1985; thường trú: Tổ dân phố B, phường Đ, TP ., tỉnh Quảng Bình; Chổ ở: Khu phân lô bán nền Kim Oanh gần vườn rau thuộc Khu phố P, phường H, Thị xã B, tỉnh Bình Dương, đứng tên chủ tài khoản. Ông T12 khai: tháng 6/2018, ông T12 có mở tài khoản số 19033344266014 tại Ngân hàng T15 để làm thủ tục bảo hiểm thất nghiệp, sau đó bên bảo hiểm chuyển cho ông T12 02 lần tiền bảo hiểm. Đến đầu năm 2019, ông T12 không sử dụng tài khoản này nữa. Sau đó, ông T12 đã làm mất thẻ ATM của tài khoản nêu trên. Ông T12 không quen biết Nguyễn Thị Ngọc T6 và cũng không biết ai hiện đang sử dụng tài khoản này.
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q rà soát, trích xuất dữ liệu camera tại khách sạn B, kết quả Khách sạn B có gắn camera quan sát nhưng không có đầu thu camera nên không lưu trữ được những hình ảnh của những ngày trước ngày đó.
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có văn bản gửi Cục An toàn thông tin truyền thông xác minh các trang www.gaito.iswww.gaigu.tvnhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.

Kết quả xác minh tài khoản số 19033020892011 mở tại Ngân hàng TMCP K do Nguyễn Xuân T đứng tên, số dư còn 137.483.928 đồng. Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản nêu trên để đảm bảo quá trình xét xử vụ án. T khai đây là tiền cá nhân của T không liên quan đến việc phạm tội.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • Thu giữ của khách sạn F1: 01 đầu ghi dữ liệu camera của khách sạn có hiệu HIKVISION.
  • Thu giữ của Ngô Đức N8: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, số Imei 351020627591640 là tài sản của Nguyễn không liên quan đến việc phạm tội.
  • Thu giữ của bị can Nguyễn Xuân T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMax, số Imei 35311110230645, là tài sản của T sử dụng vào việc phạm tội.
  • Thu giữ của Lê Thị Thu N1: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, số Imei: 353776390692786, là sản của N1 không liên quan đến việc phạm tội.
  • Thu giữ của Dương Diễm N2: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 35583508232336, là tài sản của N2 không liên quan đến việc phạm tội.
  • Thu giữ của Đào Đình Tuấn A: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số Imei: 359407087322131, là tài sản của Tuấn A không liên quan đên việc phạm tội.
  • Thu giữ của Phạm Thùy N4: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 863820050378774 là tài sản của N4 sử dụng vào việc phạm tội.
  • Thu giữ của Nguyễn Minh H2: 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A71, Imei: 3534081179211, số điện thoại: 0353.823.xxx, là tài sản của H2 sử dụng vào việc phạm tội.
  • Thu giữ của khách sạn B: 01 màn hình Samsung, mã sản phẩm: 1S22F350FHEXXV, số thứ tự ZZMDH4Z1800012X và 01 (một) CPU Samsung màu đen.
  • Thu giữ của Phạm Khắc H6: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A12, số I: 351162967495659, là tài sản cá nhân của H6 không liên quan đến việc phạm tội
  • Thu giữ của Thông Minh N11: 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei: 359265385167784, là điện thoại cá nhân của Nguyễn không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho N11.
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc T6: số tiền 600.000 đồng, là tiền Thơ bán dâm có được; 01 điện thoại di động Iphone 6, 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, là tài sản cá nhân của T6. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra trả lại 02 chiếc điện thoại cho T6.
  • Thu giữ của Mai Vân A1: 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max, là điện thoại cá nhân của Vân A1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trả lại cho Vân A1.
  • Thu giữ của Đinh Hải Y: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo A57, 01 điện thoại di động Iphone 14, là tài sản cá nhân của Y nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại 02 chiếc điện thoại cho Y.
  • Thu giữ của Cà Thị N6: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, là tài sản cá nhân của Năm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trả lại cho Năm.
  • Thu giữ của Lê Thị T3: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 2.000.000 đồng là tiền bán dâm mà có; 01 điện thoại hiệu Iphone, 01 điện thoại Iphone 11 màu trắnglà tài sản cá nhân của T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra trả lại 02 điện thoại cho T3.
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ T7: 01 bao cao su đã qua sử dụng; số tiền 1.300.000 đồng, tiền T7 bán dâm cho khách; 01 điện thoại Iphone 14 là tài sản cá nhân của T7 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại chiếc điện thoại cho T7.
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Hồng P3: 01 điện thoại di động Iphone 13, là tài sản cá nhân của P3 nên Cơ quan CSĐT Công an Q đã trả lại cho P3.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố để xét xử đối với các bị cáo:

Nguyễn Xuân T, Lê Thị Thu N1, Dương Diễm N2, Đào Đình Tuấn A đã phạm vào tội “Chứa mại dâm”, tại các điểm c, d khoản 2, Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phạm Thùy N4, Nguyễn Minh H2 đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm”, quy định tại các điểm d, đ khoản 2, Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 vẫn giữ quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo, đối với bị cáo T đã tự nguyện tác động nộp lại số tiền thu lợi bất chính, gia đình có công với Cách mạng, có ông N12 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng 3, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị xử phạt các bị cáo:

Nguyễn Xuân T mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Dương Diễm N2, Lê Thị Thu N1, Đào Đình Tuấn A, mỗi bị cáo mức hình phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Phạm Thùy N4 mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Nguyễn Minh H2 mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị;

  • Thu giữ của khách sạn F1: 01 đầu ghi dữ liễu camera của khách sạn có hiệu HIKVISION, không chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Ngô Đức N8, chủ khách sạn F1.
  • Thu giữ của Ngô Đức N8: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, số Imei 351020627591640 là tài sản của N8 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho anh N8.
  • Thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMax, số Imei 35311110230645, là tài sản của T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của Lê Thị Thu N1: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, số Imei: 353776390692786, là sản của N1 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Thu giữ của Dương Diễm N2: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 35583508232336, là tài sản của N2 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Thu giữ của Đào Đình Tuấn A:01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số Imei: 359407087322131, là tài sản của Tuấn A không liên quan đên việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Thu giữ của Phạm Thùy N4: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 863820050378774 là tài sản của N4 sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của Nguyễn Minh H2: 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A71, Imei: 3534081179211, số điện thoại: 0353.823.xxx, là tài sản của H2 sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của khách sạn B: 01 màn hình Samsung, mã sản phẩm: 1S22F350FHEXXV, số thứ tự ZZMDH4Z1800012X và 01 (một) CPU Samsung màu đen, không chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Đặng Thị Y1 – Chủ khách sạn B.
  • Thu giữ của Phạm Khắc H6: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A12, số I: 351162967495659, là tài sản cá nhân của H6 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Phạm Khắc H6.
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc T6: số tiền 600.000 đồng, là tiền Thơ bán dâm có được nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của Đinh Hải Y: 01 bao cao su đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy;
  • Thu giữ của Cà Thị N6: 01 bao cao su đã qua sử dụng; là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy
  • Thu giữ của Lê Thị T3: 01 bao cao su đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy; số tiền 2.000.000 đồng là tiền bán dâm mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ T7: 01 bao cao su đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy; số tiền 1.300.000 đồng, tiền T7 bán dâm cho khách nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
  • Đối với số tiền 137.483.928 đồng trong tài khoản số 19033020892011 mở tại Ngân hàng TMCP K do Nguyễn Xuân T đứng tên, qua điều tra không chứng minh liên quan tội phạm nên gỡ bỏ Lệnh phong tỏa tại Ngân hàng TMCP K để bị cáo nhận lại số tiền trên.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu tranh luận: Đồng ý với tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Xuân T. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo tự nguyện tác động nộp lại tiền thu lợi bất chính, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ là điểm b, s tại Điều 51 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi bất chính muốn kiếm tiền: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 16/11/2023, thông qua trang web: www.gaito.iswww.gaigu.tvbị cáo Phạm Thùy N4Nguyễn Minh H2 có hành vi môi giới để Lê Thị T3 bán dâm cho Phạm Anh T4; Đinh Hải Y bán dâm cho Phạm Trung H5; Cà Thị N6 bán dâm cho Nguyễn Anh T5 tại các Phòng 403, 502, 503 của Khách sạn F1, số H L, Phường A, Quận A và môi giới cho Nguyễn Thị Mỹ T7 bán dâm cho Từ Đức Trang tại Phòng 202, Khách sạn B, số F T, Phường A, Quận A.

Từ khoảng tháng 7/2023 đến ngày 16/11/2023, tại Khách sạn F, số H L, Phường A, Quận A, các bị cáo Nguyễn Xuân T, Dương Diễm N2, Lê Thị Thu N1, Đào Đình Tuấn A đã có hành vi cho gái bán dâm Lê Thị T3, Đinh Hải Y, Cà Thị N6, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6 ở để thực hiện hành vi mua bán dâm tại Khách sạn. Vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày 16/11/2024 các gái bán dâm Lê Thị T3, Đinh Hải Y, Cà Thị N6, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6 đang bán dâm tại các Phòng 401, 403, 502, 503 và 603 của khách sạn F1 thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Xuân T, Lê Thị Thu N1, Dương Diễm N2, Đào Đình Tuấn A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” thuộc tường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, “Chứa mại dâm 04 người trở lên” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Thùy N4, Nguyễn Minh H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Thùy N4, Nguyễn Minh H2 là nguy hiểm cho xã hội; hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Xuân T, Dương Diễm N2, Đào Đình Tuấn A, Lê Thị Thu N1 là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách phòng chống tệ nạn, trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ vụ lợi bất chính nên vẫn cố ý phạm tội.

Đối với các bị cáo phạm tội “Môi giới mại dâm” phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo N4 là người khởi sướng và thực hiện hành vi phạm tội; Bị cáo H2 giúp sức trong việc cung cấp tài khoản Ngân hàng để nhận và chuyển tiền môi giới mại dâm cho N4 nên vai trò bị cáo N4 là tích cực hơn so với bị cáo H2.

Đối với các bị cáo phạm tội “Chứa mại dâm” phạm tội đồng phạm mang tính chất giản đơn. Trong đó, bị cáo Nguyễn Xuân T trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh khách sạn là người khởi xướng, rủ rê. Các bị cáo Dương Diễm N2, Lê Thị Thu N1, Đào Đình Tuấn A là quản lý và nhân viên lễ tân có vai trò giúp sức tích cực, giao phòng và thu tiền phòng. Do đó, vai trò của bị cáo T là tích cực hơn, các bị cáo N1, N2, Tuấn A có vai trò như nhau.

Đối với Lê Thị T3, Đinh Hải Y, Cà Thị N6, Mai Vân A1, Nguyễn Thị Ngọc T6, Phạm Anh T4, Phạm Khánh N7, Nguyễn Đức M, Phạm Trung H5, Nguyễn Anh T5, Từ Đức T8, Công an Q đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi mua bán dâm.

Đối với bà Đặng Thị Y1 chủ khách sạn, ông Thông Minh N11, ông Nguyễn Văn H10 quản lý và lễ tân khách sạn B không biết T7 thuê phòng ở để đi bán dâm tại khách sạn B nên hành vi không cấu thành tội phạm.

Đối với Phạm Khắc H6, là lễ tân khách sạn B, H6 không phải là người cho T7 thuê phòng Khách sạn, không biết T8 đến thuê phòng để mua dâm, không biết T7 vào phòng T8 để bán dâm và không ai nói cho H6 biết T7 đi thuê phòng để bán dâm tại Khách sạn. Những ngày trước H6 thấy T7 đi vào phòng khác tại Khách sạn nên nghĩ là T7 bán dâm. Ngoài lời khai của H6 thì không còn tài liệu chứng của nào khác nên không đủ căn cứ xử lý H6 về hành vi chứa mại dâm.

Đối với Ngô Đức N8, quá trình điều tra ghi nhận: khách sạn F do N8 đứng tên giấy phép kinh doanh, tháng 07/2023 Nguyễn Xuân T góp vốn cải tạo lại Khách sạn và chia lợi nhuận. N8T thoả thuận giao cho T quản lý điều hành chung. Nguyên thỉnh thoảng mới đến Khách sạn rồi về, không tham gia quản lý. T sẽ báo doanh thu Khách sạn và chuyển khoản lợi nhuận cho N8. Các bị cáo Dương Diễm N2, Lê Thị Thu N1, Đào Đình Tuấn A không nói cho N8 biết việc Khách sạn cho gái bán dâm ở để bán dâm, N8 hoàn toàn không biết việc T cho gái bán dâm thuê ở để bán dâm tại tại Khách sạn. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho N8T đối chất nhưng không rõ được mâu thuẫn. Qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa cũng chưa đủ cơ sở để xem xét đối với hành vi của N8 về việc biết T cho gái bán dâm thuê phòng khách sạn.

Đối với ý kiến của luật sư bào chữa đề nghị cho bị cáo T hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không phù hợp với quy định của pháp luật, bởi lẽ: việc bị cáo T tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính không phải là trường hợp bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả thiệt hại theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Các tình tiết tăng nặng: Không có

[5] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T có ông ngoại từng được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến Hạng 3 và tích cực nộp lại tiền thu lợi bất chính để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo tiếp tục cải tạo. Hình phạt đối với các bị cáo cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về số tiền thu lợi bất chính: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T thu lợi bất chính số tiền là 15.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần tịch thu số tiền trên nộp ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động gia đình nộp lại khoản tiền trên.

Đối với Phạm Thùy N4, quá trình điều tra khai nhận số tiền thu lợi bất chính là 61.950.000 đồng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét:

  • Thu giữ của khách sạn F1: 01 đầu ghi dữ liệu camera của khách sạn có hiệu HIKVISION, không chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Ngô Đức N8, chủ khách sạn F1.
  • Thu giữ của Ngô Đức N8: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, số Imei 351020627591640 là tài sản của N8 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho anh N8.
  • Thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMax, số Imei 35311110230645, là tài sản của T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của Lê Thị Thu N1: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, số Imei: 353776390692786, là sản của N1 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Thu giữ của Dương Diễm N2: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 35583508232336, là tài sản của N2 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Thu giữ của Đào Đình Tuấn A:01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số Imei: 359407087322131, là tài sản của Tuấn A không liên quan đên việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • Thu giữ của Phạm Thùy N4: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 863820050378774 là tài sản của N4 sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của Nguyễn Minh H2: 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A71, Imei: 3534081179211, số điện thoại: 0353.823.xxx, là tài sản của H2 sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của khách sạn B: 01 màn hình Samsung, mã sản phẩm: 1S22F350FHEXXV, số thứ tự ZZMDH4Z1800012X và 01 (một) CPU Samsung màu đen, không chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Đặng Thị Y1 – Chủ khách sạn B.
  • Thu giữ của Phạm Khắc H6: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A12, số I: 351162967495659, là tài sản cá nhân của H6 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Phạm Khắc H6.
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc T6: số tiền 600.000 đồng, là tiền Thơ bán dâm có được nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Thu giữ của Đinh Hải Y: 01 bao cao su đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy;
  • Thu giữ của Cà Thị N6: 01 bao cao su đã qua sử dụng; là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy
  • Thu giữ của Lê Thị T3: 01 bao cao su đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy; số tiền 2.000.000 đồng là tiền bán dâm mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
  • Thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ T7: 01 bao cao su đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tiêu hủy; số tiền 1.300.000 đồng, tiền T7 bán dâm cho khách nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
  • Đối với số tiền 137.483.928 đồng trong tài khoản số 19033020892011 mở tại Ngân hàng TMCP K do Nguyễn Xuân T đứng tên, qua điều tra không chứng minh liên quan tội phạm nên gỡ bỏ Lệnh phong tỏa tại Ngân hàng TMCP K để bị cáo nhận lại số tiền trên.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân T (tên gọi khác: N8), Lê Thị Thu N1, Dương Diễm N2, Đào Đình Tuấn A phạm tội “Chứa mại dâm

Các bị cáo Phạm Thùy N4, Nguyễn Minh H2 (tên gọi khác: Cu) phạm tội “Môi giới mại dâm

- Căn cứ các điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T (tên gọi khác: N8) 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 25/11/2023.

- Căn cứ các điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Dương Diễm N2 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 25/11/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu N1 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 16/11/2023.

Xử phạt bị cáo Đào Đình Tuấn A 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 25/11/2023.

- Căn cứ các điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Thùy N4 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H2 (tên gọi khác: Cu) 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 25/11/2023.

Miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Buộc bị cáo Phạm Thùy N4 có nghĩa vụ nộp số tiền thu lợi bất chính 61.950.000 (Sáu mươi mốt triệu, chín trăm năm mươi ngàn) đồng vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
    • Số tiền 3.900.000 (Ba triệu, chín trăm ngàn) đồng.
    • Số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004099 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
  • + Tiêu hủy: 04 bao cao su đã qua sử dụng
  • + Trả lại cho:
    • Ông Ngô Đức N8, chủ khách sạn F1: 01 đầu ghi dữ liệu camera của khách sạn có hiệu HIKVISION.
    • Đặng Thị Y1: 01 màn hình Samsung, mã sản phẩm: 1S22F350FHEXXV, số thứ tự ZZMDH4Z1800012X và 01 (một) CPU Samsung màu đen.
    • Ông Ngô Đức N8: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, số I 351020627591640.
    • Bị cáo Lê Thị Thu N1: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, số I: 353776390692786.
    • Bị cáo Dương Diễm N2: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số I: 35583508232336.
    • Bị cáo Đào Đình Tuấn A: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số I: 359407087322131.
    • Anh Phạm Khắc H6: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A12, số I: 351162967495659.
    • Gỡ bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 03/LPT-CSĐT-ĐCSHS ngày 12/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q; cho bị cáo Nguyễn Xuân T được nhận lại số tiền 137.483.928 (Một trăm ba mươi bảy triệu, bôn trăm tám mươi ba ngàn, chín trăm hai mươi tám) đồng trong tài khoản số 19033020892011 tại Ngân hàng TMCP K (T15)

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 72/QĐ-VKS ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10; Giấy nộp tiền tại kho bạc nhà nước ngày 17/5/2024 và Biên lai thu tiền số 0004099 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10)

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 10;
  • - Công an Quận 10, PV06;
  • - Chi cục Thi hành án DS Quận 10;
  • - Các bị cáo
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nhất Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm (chứa mại dâm và môi giới mại dâm)

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Chứa mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger