Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày: 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung;

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Kim Lý;
  2. Ông Lương Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thuỷ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Thị Út N, sinh năm 1990 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T, sinh năm 1948 và bà Lê Thị V, sinh năm 1951; có chồng là Trần Vũ T1, sinh năm 1991 (đã ly hôn); có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Minh T2, sinh năm 1991 tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1966 và bà Quang Thị Thanh T3, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1993; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

2

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1994 tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T5 (đã chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc D, sinh năm 1958; có 08 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1997;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Thái Văn L, sinh năm 1979 tại thành phố Cần Thơ; hộ khẩu thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Thái Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị D1, sinh năm 1960; có vợ là Thị N1, sinh năm 1988; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Thái Văn H2, sinh năm 1985 tại thành phố Cần Thơ; hộ khẩu thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Thái Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị D1, sinh năm 1960; có vợ là Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1992; có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Văn V2, sinh năm 1983 tại thành phố Cần Thơ; hộ khẩu thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Thái Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960; có vợ là Trần Thị T6, sinh năm 1993 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

3

Nhân thân: Ngày 21/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, phạt bổ sung 10.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí vào ngày 02/01/2020.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Huỳnh Thị Ngọc D, sinh năm 1958 tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị L2 (đã chết); có chồng là Nguyễn Văn T5 (đã chết); có 08 con, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 đến ngày 01/8/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T2, Lê Thị Út N, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D cùng thuê phòng trọ ở tại nhà trọ Trần Thị V3 thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên quen biết nhau. Nguyễn Tấn H1 là con ruột của Huỳnh Thị Ngọc D.

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 22/7/2023, L và T2 rủ nhau đến phòng trọ số 18A (không người ở) nhà trọ Trần Thị V3 để chơi đánh bài dưới hình thức bài Binh Ấn Độ thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N, H2, D, Vũ lần 1 đi ngang qua phòng 18A thấy đánh bài và cùng vào tham gia chơi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H1 đi tìm D và cũng vào tham gia đánh bạc. T2, L, H2, H1, V2 và Út N mỗi người chơi 01 tụ riêng, còn D đặt chung tụ với L. Mỗi người làm cái một ván.

Cách thức đánh bạc dưới hình thức chơi bài Binh Ấn Độ thắng thua bằng tiền như sau: Người làm cái sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho tất cả những người tham gia chơi, mỗi người được chia 06 lá bài và xếp thành 02 tầng mỗi tầng 03 lá. Sau đó, người chơi đếm nút ở mỗi tầng để so sánh và phân định kết quả thắng thua với nhà cái. Quy định 03 tây là điểm cao nhất, 10 nút là thấp nhất, tầng trên dùng để xếp bài có số nút nhỏ hơn tầng dưới. Mỗi người xoay vòng làm cái 01 ván.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả nhóm bị lực lượng công an phường H đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ:

  • T7 trên chiếu bạc số tiền 7.150.000 đồng và 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng;

4

  • T7 trên người: Số tiền 750.000 đồng của Nguyễn Minh T2; số tiền 1.900.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đen của Lê Thị Út N; số tiền 500.000 đồng của Thái Văn H2; số tiền 1.089.000 đồng của Huỳnh Thị Ngọc D; số tiền 1.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh đen của Thái Văn L; số tiền 133.000 đồng của Nguyễn Thanh V4.

Sau đó, vụ việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T2, Lê Thị Út N, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2, Nguyễn Tấn H1 và Huỳnh Thị Ngọc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Số tiền mang theo dùng để đánh bạc và thắng thua bị thu giữ của từng người chơi cụ thể như sau:

  • Nguyễn Minh T2 khai: T2 mang theo số tiền 900.000 đồng và sử dụng đánh bạc hết. Tại thời điểm bị bắt quả tang, T2 thắng được 250.000 đồng, bị thu giữ số tiền 400.000 đồng trên chiếu bạc và số tiền 750.000 đồng kẹp dưới lòng bàn chân dùng để đánh bạc.
  • Thái Văn L khai: L mang theo số tiền 1.750.000 đồng, chỉ sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, L3 thắng được 250.000 đồng, trong đó có 50.000 đồng của Huỳnh Thị Ngọc D chơi chung tụ, bị thu giữ số tiền 500.000 đồng trên chiếu bạc và số tiền 1.500.000 đồng trong ốp điện thoại không sử dụng đánh bạc.
  • Lê Thị Út N khai: N mang theo số tiền 6.700.000 đồng, sử dụng 4.800.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, N không thắng thua, bị thu giữ số tiền 4.800.000 đồng trên chiếu và số tiền 1.900.000 đồng trong lưng quần không sử dụng đánh bạc.
  • Nguyễn Văn V2 khai: V2 mang theo số tiền 633.000 đồng, chỉ sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt quả tang, V2 không thắng thua, V2 bị thu giữ số tiền 500.000 đồng trên chiếu bạc và số tiền 133.000 đồng để trên người không dùng đánh bạc.
  • Thái Văn H2 khai: H2 mang theo số tiền 500.000 đồng và sử dụng đánh bạc hết. Tại thời điểm bị bắt quả tang, H2 không thắng thua, H2 bị thu giữ số tiền 500.000 đồng trên người dùng đánh bạc.
  • Nguyễn Tấn H1 khai: H1 mang theo số tiền 600.000 đồng và sử dụng đánh bạc hết. Tại thời điểm bị bắt quả tang, H1 thắng được 50.000 đồng, bị thu giữ số tiền 650.000 đồng trên chiếu bạc.
  • Huỳnh Thị Ngọc D khai: D mang theo số tiền 1.189.000 đồng, chỉ sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, D chơi ké tụ với L. Tại thời điểm bị bắt quả tang, D thua số tiền 50.000 đồng, bị thu giữ số tiền 50.000 đồng trên chiếu bạc và bị thu giữ số tiền 1.089.000 đồng trên người không dùng đánh bạc.

Tổng số tiền mà Nguyễn Minh T2, Thái Văn L, Lê Thị Út N, Thái Văn H2, Nguyễn Tấn H1, Nguyễn Văn V2, Huỳnh Thị Ngọc D dùng để đánh bạc là 8.400.000 đồng, trong đó: Tiền thu giữ trên chiếu bạc là 7.150.000 đồng, thu giữ trên người của T2 là 750.000 đồng, của H2 là 500.000 đồng.

5

  • Về xử lý vật chứng: Ngày 19/02/2024, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng giao trả 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen cho Lê Thị Út N; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh đen cho Thái Văn L.

Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKSBC ngày 09/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2 và Huỳnh Thị Ngọc D; Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn V2: Xử phạt mỗi bị cáo số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
  • Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 7.150.000 đồng trên chiếu bạc; số tiền 750.000 đồng của Nguyễn Minh T2, số tiền 500.000 đồng của Thái Văn H2 dùng để đánh bạc.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng;
    • Quản thủ đối với số tiền: 1.500.000 đồng của Thái Văn L; 1.900.000 đồng của Lê Thị Út N; 133.000 đồng của Nguyễn Văn V2 và 1.089.000 đồng của Huỳnh Thị Ngọc D.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo không bào chữa, không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.

Trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên;

6

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ khoảng 19 giờ 30 phút đến khoảng 21 giờ, ngày 22/7/2022, tại phòng trọ số A, nhà trọ Trần Thị V3 thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D có hành vi cùng nhau tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi đánh bài B Ấn Độ với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 8.400.000 đồng. Trong đó số tiền đánh bạc của từng bị cáo là:

  • Của Nguyễn Minh T2 là 1.150.000 đồng.
  • Của Thái Văn L là 500.000 đồng.
  • Của Lê Thị Út N là 4.800.000 đồng.
  • Của Nguyễn Văn V2 là 500.000 đồng.
  • Của Thái Văn H2 là 500.000 đồng.
  • Của Nguyễn Tấn H1 là 650.000 đồng.
  • Của Huỳnh Thị Ngọc D là 100.000 đồng.

[2.2] Xét các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn hoàn toàn biết hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã cố tình thực hiện. Hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương, đánh bạc còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác.

Hành vi của các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, bản Cáo trạng số 105/CT-VKSBC ngày 09/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B) và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

7

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, tất cả các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2.2] Các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2 và Huỳnh Thị Ngọc D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

[3.2.3] Bị cáo Lê Thị Út N có bà ngoại, bị cáo Nguyễn Tấn H1 có cha và bị cáo Huỳnh Thị Ngọc D có chồng là người có công với cách mạng; bị cáo Út N đang nuôi con nhỏ dưới 06 tháng tuổi; gia đình các bị cáo Nguyễn Minh T2, Thái Văn H2, Thái Văn L và Nguyễn Văn V2 có hoàn cảnh khó khăn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho từng bị cáo.

[4] Về nhân thân: Ngày 21/11/2019, bị cáo Nguyễn Văn V2 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, phạt bổ sung 10.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí vào ngày 02/01/2020.

[5] Áp dụng quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xét về tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Trong đó các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra tính chất, mức độ phạm tội còn căn cứ trên số tiền dùng để đánh bạc của từng bị cáo là khác nhau.

[6] Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc không lớn nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội vẫn có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với các vật chứng thu giữ bao gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen thu giữ của bị cáo Lê Thị Út N và 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh đen thu giữ của bị cáo Thái Văn L. Xét không có căn cứ xác định các bị cáo sử dụng các tài sản này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng giao trả cho các bị cáo là phù hợp.

[7.2] Đối với số tiền 8.400.000 đồng, bao gồm: 7.150.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 750.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh T2, 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Thái Văn H2 là tài sản các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a

8

khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7.3] Đối với 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng. Xét đây là vật chứng của vụ án do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7.4] Đối với số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Thái Văn L; số tiền 1.900.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Thị Út N; số tiền 133.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn V2 và số tiền 1.089.000 đồng thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc D. Do không có căn cứ xác định các bị cáo sử dụng số tiền này vào việc phạm tội hay tiền các bị cáo có được từ việc phạm tội nên cần giao trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên để đảm bảo cho việc thi hành án của từng bị cáo, cần quản thủ số tiền nêu trên.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về điều khoản áp dụng và mức hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
  • Xử phạt bị cáo Thái Văn L số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
  • Xử phạt bị cáo Lê Thị Út N số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng);
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);
  • Xử phạt bị cáo Thái Văn H2 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);
  • Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Ngọc D số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

9

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V2 số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).

3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú các số 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38/2024/HSST-LCCT ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 8.400.000 đồng (tám triệu, bốn trăm nghìn đồng).
  • Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 Bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
  • Tuyên quản thủ để đảm bảo cho việc thi hành án đối với số tiền:
    • 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Thái Văn L;
    • 1.900.000 đồng (một triệu, chín trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lê Thị Út N;
    • 133.000 đồng (một trăm ba mươi ba nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn V2;
    • 1.089.000 đồng (một triệu, không trăm tám mươi chín nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc D.

(Theo Giấy nộp tiền ngày 17/4/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nộp vào Tài khoản số 3949.0.1046035 mở tại Kho bạc Nhà nước thành phố B, tỉnh Bình Dương và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - UBND phường Hòa Lợi, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Công an phường Hòa Lợi, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Út N, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Tấn H1, Thái Văn L, Thái Văn H2, Nguyễn Văn V2 và Huỳnh Thị Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger