|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:113/2024/HSST
Ngày 23-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Duôi và ông Lò Văn Quốc
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lường Văn N, tên gọi khác: Không; sinh năm 1998, tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Ta Khoang, xã P, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Ngấu, sinh năm 1974 và bà Lò Thị Phin, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 27 tháng 01 năm 2024. Có mặt.
- Lò Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm 2001, tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Trọ Phảng, xã P, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vân): 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Xương (đã chết) và bà Lò Thị Hùng, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 27 tháng 01 năm 2024. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lù Văn Định, sinh năm 2005; nơi cư trú: bản Trọ Phảng, xã P, huyện TC, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, Tổ công tác Công an xã P, huyện TC làm nhiệm vụ tại khu vực bản Hưng Nhân, xã P, huyện TC phát hiện bắt quả tang Lường Văn N, Lò Văn L có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa 08 (tám) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Lường Văn N, Lò Văn L khai là Heroine và ma túy tổng hợp). Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen xám, BKS 26K3-7944.
Hồi 19 giờ 00 phút, ngày 27/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: số bột cục màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu xanh, có khối lượng 0,87 gam. Trích toàn bộ 0,87 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu N1 gửi giám định. 08 (tám) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp bên trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,78 gam. Trích toàn bộ 08 (tám) viên nén màu hồng, có khối lượng 0,78 gam, ký hiệu N2 gửi giám định.
Kết luận giám định số: 433/KL- KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu N1 là ma túy, loại (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,87 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu N2 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,78 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,87 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,78 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 27/01/2024, Lường Văn N đi bộ một mình từ nhà ở bản Ta Khoang, xã P, huyện TC đi lên nhà Lò Văn L, sinh năm 2001, trú tại bản Trọ Phảng, xã P, huyện TC mục đích rủ L đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. N đến nhà L thấy L ở nhà một mình, N nói với L là N có số tiền 1.700.000 đồng và rủ L đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, L đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS 26K3-7944 chở N lên xã Mường É, huyện TC đi tìm mua ma túy. Khi N và L đi đến khu vực bản Tum Tàn, xã Mường É, huyện TC thì gặp một người đàn ông tên Đông (N không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu, L biết người đàn ông bán ma túy cho N và L tên là Đông, không biết họ, nhà ở bản Tum Tàn, xã Mường É, huyện TC), N hỏi và mua được của người đàn ông tên Đông một gói ma túy gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine với giá 1.000.000 đồng và một gói ma túy gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa 08 (tám) viên hồng phiến với giá 700.000 đồng, tổng cộng hết 1.700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cất giấu hai gói ma túy vừa mua được ở tay phải và bảo L điều khiển xe chở L về xã P, huyện TC để đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi N và L đi về đến khu vực bản Hưng Nhân, xã P, huyện Thuận Châu thì bị tổ công tác Công an xã P, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 63/CT- VKSTC, ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn N từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lù Văn Định một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen xám, BKS 26K3-7944.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lù Văn Định có ý kiến: Xin lại chiếc mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen xám, BKS 26K3-7944 và không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên toà các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L khai nhận ngày 27/01/2024, N rủ L đi mua ma túy với mục đích đê cùng nhau sử dụng, Lường Văn N bỏ ra số tiền 1.700.000 đồng để mua ma túy, là người trực tiếp trao đổi mua ma tuý, Lò Văn L là người sử dụng phương tiện xe máy chở Lường Văn N đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, N và L đi đến khu vực bản Hưng Nhân, xã P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện, bắt quả tang khi N đang cất giữ trái phép 1,65 gam chất ma túy (0,87 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,78 gam, loại Methamphetamine) ở trong người.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn N trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 27/01/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 433/KL- KTHS ngày 30/01/224 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.
Từ các căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở kết luận hành vi rủ nhau đi mua ma túy với mục đích để cùng nhau sử dụng của các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L, khi bị cáo Lường Văn N đang cất giữ trái phép 1,65 gam chất ma túy (0,87 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,78 gam, loại Methamphetamine) trong người thì bị phát hiện bắt quả tang, hành vi của các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lường Văn N là người rủ rê, khởi xướng, bỏ ra số tiền 1.700.000 đồng, trực tiếp trao đổi mua ma túy, bị cáo Lò Văn L, cùng thống N ý chí, sử dụng phương tiện là xe mô tô trở N cùng đi mua ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L phạm tội với vai trò đồng phạm, do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét vai trò của các bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L không có tiền án, tiền sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L khai mua của một người đàn ông tên là Đông, trú tại bản Tum Tàn, xã Mường É, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 27/01/2024. Quá trình điều tra xác định tại bản Tum Tàn, xã Mường É, huyện TC, tỉnh Sơn La có một người tên là Lò Văn Đông, sinh năm 1996. Cơ quan CSĐT Công an huyện TC đã tiến hành xác minh, triệu tập để lấy lời khai, nhưng Lò Văn Đông không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết Đông đi đâu, làm gì. Cơ quan CSĐT Công an huyện TC đã ra quyết định truy tìm đối với Lò Văn Đông nhưng chưa có kết quả. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
[6] Đối với Lò Văn Đông, sinh năm 1996, trú tại bản Tum Tàn, xã Mường É, huyện TC, tỉnh Sơn La. Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L khai là người đã bán ma túy cho các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L. Cơ quan CSĐT Công an huyện TC đã tiến hành xác minh, triệu tập để lấy lời khai, nhưng Lò Văn Đông không có mặt tại địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện TC đã ra quyết định truy tìm đối với Lò Văn Đông nhưng chưa có kết quả, do vậy chưa có căn cứ xử lý đối với Lò Văn Đông là có căn cứ đúng pháp luật.
[7] Vật chứng vụ án: Đối với 02 (hai) mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen xám, BKS 26K3-7944 thu giữ của bị cáo Lò Văn L vào ngày 27/01/2024 là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định tài sản của anh Lù Văn Định, việc các bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, anh Định không biết. Tại phiên toà anh Lù Văn Định có đơn xin xe và có ý kiến xin lại chiếc xe. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen xám, BKS 26K3-7944 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lù Văn Định theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[8] Về án phí: Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị Lường Văn N, Lò Văn L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Xử phạt bị cáo Lường Văn N 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/01/2024.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn L 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lường Văn N cùng đồng phạm- TTTPCMT, bắt ngày 27/01/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 077041, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC. Sau đó, dán băng dính màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì. Bên trong có: 02 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lù Văn Định: Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn đen xám, BKS 26K3-7944, số khung 036833, số máy 1564824, xe đã qua sử dụng cũ, xe không có hộp xích, xe bị vỡ, hỏng nhiều chỗ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lù Văn Định được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |
Bản án số 113/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 113/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
