|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2023/HS-ST Ngày: 22-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương
2. Ông Lê Thế Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Cao T - sinh năm: 1999, tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Cao M - sinh năm 1965; con bà: Lê Thị L - sinh năm 1964; có vợ là: Nguyễn Thị T1 - sinh năm 2000; có con sinh năm 2023;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/7/2023 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Anh Trần Văn L1 - Sinh năm: 1998; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Cao M - Sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- + Cháu Trần Văn Đức A – Sinh ngày 08/10/2011; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Đức A1: Anh Trần Ngọc T2 - Sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (là bố đẻ của cháu Đức A1) (vắng mặt)
- + Ông Lê Văn S – Sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- + Anh Lê Đình D – Sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- + Anh Nguyễn Cao M1 – Sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- + Bà Cao Thị L2 – Sinh năm 1968; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị B – Sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 22/5/2023, ông Nguyễn Cao M, sinh năm 1965, trú tại thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe mô tô chở ông Lê Văn S, sinh năm 1965, người cùng thôn, trên đường đi đám cưới ở phường X về. Khi đi về đến đoạn đường gần ngã tư giao nhau với đường vào chợ phường T thuộc tổ dân phố T, phường T, thị xã N, thì ông M nhìn thấy anh Trần Văn L1, sinh năm 1998 và cháu Trần Văn Đức A, sinh năm 2011, là em họ của anh L1, cùng trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đang đứng bên cạnh chiếc xe ô tô tải, biển kiểm soát 36C-329.90 của anh L1 ở phía trước theo hướng đi, nên ông M đã bấm còi xin đường. Do cháu Đức A1 chưa kịp tránh để nhường đường nên ông M dừng xe lại chửi cháu Đức A1, sau đó giữa ông M và anh L1 có lời qua tiếng lại chửi bới nhau. Thấy ông M cầm chiếc mũ bảo hiểm trên tay nên anh L1 cũng lên cabin xe ô tô lấy 01 chiếc gậy bóng chày xuống cầm trên tay và tiếp tục chửi bới nhau với ông M, sau đó được mọi người can ngăn nên anh L1 cầm gậy bóng chày lên cabin xe đóng cửa lại.
Nghe tin ông M xích mích, cãi cọ với anh L1 nên Lê Đình D, sinh năm 1999 (cháu của ông M) và Nguyễn Cao M1, sinh năm 1993 (con của ông M), cùng trú tại thôn B, xã H, thị xã N đi đến yêu cầu anh L1 xuống xe ô tô để nói chuyện, sau đó M1 dùng tay chân đấm đá vào người anh L1, còn D dùng tay đấm vào người anh L1; bị đánh nên anh L1 bỏ chạy vào nhà bà Cao Thị L2 ở gần đó trốn, M1 và D được ông Lê Văn S can ngăn nên dừng lại, không đuổi đánh anh L1 nữa.
Cùng lúc này, Nguyễn Cao T, sinh năm 1999 (con của ông M), trú tại thôn B, xã H, thị xã N điều khiển xe mô tô đi đến, nghe mọi người nói anh L1 có xích mích, cãi cọ với ông M nên T đã chạy vào nhà bà L2 dùng chiếc chìa khóa xe máy (phần đầu chìa khóa màu đen có dòng chữ nhãn hiệu Honda dài 03cm, phần thân chìa khóa được làm bằng kim loại màu trắng xám dài 4,5cm, mũi nhọn, trên thân chìa khóa có dòng chữ P108) đâm về phía anh L1 trúng 02 phát vào đầu và 01 phát vào mu bàn tay trái của anh L1 gây thương tích. Lúc này M1, D cũng đi vào nhà bà L2, thấy T đang cầm chìa khóa xe máy đánh anh L1 nên đã đi lại can ngăn, ôm T kéo ra, sau đó cả ba cùng đi về. Về phần bà L2 sau đó đã gọi điện thoại trình báo sự việc với Công an phường T, còn anh L1 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 27/5/2023 xuất viện về nhà.
Kết quả khám thương ban đầu tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 18 giờ 00 phút ngày 23/5/2023 và Bệnh án sao của Bệnh viện Đ, thì anh anh Trần Văn L1 bị các vết thương sau:
- 01 vết thương rách da tại vị trí đỉnh đầu, kích thước (01 x 0,5) cm (vết một);
- 01 vết thương rách da tại vị trí phía dưới đỉnh đầu cách vết một 03cm có kích thước (01x 0,5)cm;
- 01 vết thương tại vị trí mu bàn tay trái đã được khâu vá và băng bó bằng băng y tế.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 936/KLTTCT-PYTH ngày 20/6/2023, Trung tâm P kết luận: Anh Trần Văn L1 bị tổn thương cơ thể 12%.
Tại Bản cáo trạng số 120/CT-VKSNS ngày 18/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Cao T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 và Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt: Nguyễn Cao T từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 48 đến 54 tháng; Không xem xét phần bồi thường; Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chìa khóa xe máy, phần đầu chìa khóa màu đen có dòng chữ nhãn hiệu Honda dài 03cm, phần thân chìa khóa được làm bằng kim loại màu trắng xám dài 4,5cm, mũi nhọn, trên thân chìa khóa có dòng chữ P108. Trả lại cho ông Nguyễn Cao M 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám, bên trái có dòng chữ HITA HELMETS, mũ bảo hiểm có kích thước (25x22x12)cm, bên ngoài mũ bảo hiểm được làm bằng nhựa cứng, bên trong có lớp xốp cứng màu trắng được bọc lớp vải màu đen. Trả lại cho anh Trần Văn L1 01 gậy bóng chày có dòng chữ nhãn hiệu BAT màu đen được làm bằng kim loại màu đen, có chiều dài 71cm, đường kính chỗ rộng nhất là 05cm. Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cao T thừa nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 22/5/2023, tại gia đình bà Cao Thị L2 ở tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, do bực tức việc anh Trần Văn L1 có xích mích, chửi bới nhau với bố mình là ông Nguyễn Cao M, nên Nguyễn Cao T đã dùng chiếc chìa khóa xe máy là hung khí nguy hiểm đâm vào đầu, vào tay anh L1 gây thương tích, làm anh L1 bị tổn thương cơ thể 12%.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.
Đối với Lê Đình D và Nguyễn Cao M1 có hành vi dùng tay chân đấm đá vào người anh L1 nhưng không để lại thương tích, sau đó được ông Lê Văn S can ngăn, nên D và M1 dừng lại, không đuổi đánh anh L1 nữa nên hành vi của D và M1 đã chấm dứt. Mặt khác khi thấy T đánh gây thương tích cho anh L1, D và M1 còn vào can ngăn. Vì vậy D và M1 không đồng phạm với T trong vụ án. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ và tài liệu có liên quan đến Công an thị xã N để xem xét xử lý hành chính đối với D và M1 theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với ông Nguyễn Cao M có hành vi chửi bới cháu Trần Văn Đức A và chửi bới nhau với anh Trần Văn L1, là nguyên nhân dẫn đến Nguyễn Cao T đánh gây thương tích cho anh L1. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định ông M không hô hào, xúi dục cũng như tham gia gây thương tích cho anh L1, việc T gây thương tích cho anh L1 là bột phát, nên ông M không đồng phạm với Nguyễn Cao T về tội cố ý gây thương tích. Cơ quan điều tra cũng đã chuyển tài liệu đến Công an thị xã N để xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với ông M theo quy định. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
[3] Xét tính chất mức độ, hành vi và hậu quả thấy rằng: Bị cáo dùng hung khí để gây thương tích cho bị hại là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang cho nhân dân trên địa bàn. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
Tiền án, tiền sự không, thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về vật chứng:
- Đối với 01 chiếc chìa khóa xe máy, phần đầu chìa khóa màu đen có dòng chữ nhãn hiệu Honda dài 03cm, phần thân chìa khóa được làm bằng kim loại màu trắng xám dài 4,5cm, mũi nhọn, trên thân chìa khóa có dòng chữ P108, hiện đang bị quy trữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/16 ngày 17/11/2023. Đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng. Do đó cần phải căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám, bên trái có dòng chữ HITA HELMETS, mũ bảo hiểm có kích thước (25x22x12)cm, bên ngoài mũ bảo hiểm được làm bằng nhựa cứng, bên trong có lớp xốp cứng màu trắng được bọc lớp vải màu đen (thu giữ của ông Nguyễn Cao M) và 01 gậy bóng chày có dòng chữ nhãn hiệu BAT màu đen được làm bằng kim loại màu đen, có chiều dài 71cm, đường kính chỗ rộng nhất là 05cm (45thu giữ của anh Trần Văn L1), hiện đang bị quy trữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/16 ngày 17/11/2023. Chiếc mũ bảo hiểm và gậy bóng chày này không phải là vật chứng của vụ án, nó là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông M và anh T. Do đó căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại chiếc mũ bảo hiểm và gậy bóng chày cho chủ sở hữu là phù hợp.
[6] Xét về bồi thường dân sự: Ngày 25/8/2023, bị cáo Nguyễn Cao T đã nhờ anh trai của mình là Nguyễn Cao M1 thỏa thuận, bồi thường cho anh Trần Văn L1 số tiền 70.000.000 đồng; anh L1 không yêu cầu T bồi thường gì thêm về dân sự. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
[7] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 và Điều 65 BLHS. điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Nguyễn Cao T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt:
Xử phạt Nguyễn Cao T 24 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/11/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Cao T cho chính quyền UBND xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe máy, phần đầu chìa khóa màu đen có dòng chữ nhãn hiệu Honda dài 03cm, phần thân chìa khóa được làm bằng kim loại màu trắng xám dài 4,5cm, mũi nhọn, trên thân chìa khóa có dòng chữ P108, hiện đang bị quy trữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/16 ngày 17/11/2023.
- Trả lại cho ông Nguyễn Cao M 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám, bên trái có dòng chữ HITA HELMETS, mũ bảo hiểm có kích thước (25x22x12)cm, bên ngoài mũ bảo hiểm được làm bằng nhựa cứng, bên trong có lớp xốp cứng màu trắng được bọc lớp vải màu đen, hiện đang bị quy trữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/16 ngày 17/11/2023.
- Trả lại cho anh Trần Văn L1 01 gậy bóng chày có dòng chữ nhãn hiệu BAT màu đen được làm bằng kim loại màu đen, có chiều dài 71cm, đường kính chỗ rộng nhất là 05cm, hiện đang bị quy trữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/16 ngày 17/11/2023.
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Cao T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Người có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 113/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 113/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 22/5/2023 Nguyễn Cao T đã dùng chiếc chìa khóa xe may đâm vào đầu và tay anh L là anh L bị tổn thương cơ thể là 12 %
