Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 113/2023/HSST

Ngày: 22/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

* Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiểm

* Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bá Tuấn – nguyên Phó CT hội cựu chiến binh huyện Thanh Oai, Hà Nội

2. Bà Nguyễn Thị Phương – Giáo viên trường THCS Bình Minh

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Tâm - Thư ký Tòa án

* Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thanh Oai: Ông Lê Đức Ánh - Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa công khai vào hồi 14 giờ 30 Phút ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2023/HSST ngày 01/11/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXX- TA ngày 10/11/2023 đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh năm 2000; Trú tại: số 135 xóm G, Thôn L, xã T, huyện T, H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên bố: Trần Thế A, sinh năm 1976; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 3/9/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt

*Người bị hại

1. Nguyễn Duy Danh K sinh ngày 04/5/2007. Xin vắng mặt

Trú tại: thôn C, xã B, huyện T, H

*Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Duy Danh K là Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (mẹ đẻ của K); Trú tại: thôn C, xã B, huyện T, H. xin vắng mặt

- 2 -

2. Nguyễn Tiến P sinh ngày 09/7/2007. Xin vắng mặt

Trú tại: thôn Q, xã B, huyện T, H.

*Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Tiến P là bà Dương Thị H, sinh năm 1976; trú tại: thôn Q, xã B, huyện T, H. xin vắng mặt

3. Lê Hải N, sinh ngày 09/01/2007. Xin vắng mặt

Trú tại thôn T, xã M, huyện T

*Người đại diện hợp pháp của Lê Hải N là ông Lê T, sinh năm 1980; trú tại: Thiên Đông, xã M, huyện T, TP. H. xin vắng mặt

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Vương Quốc T sinh năm 1993. Có mặt

Chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện T, H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/9/2023, Trần Thanh T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biểm kiểm soát 29X7 - 257.95 (xe mượn của anh Vương Quốc T sinh năm 1993 ở cùng thôn) đi trên đường tỉnh lộ 427, khi T1 đi đến đoạn đường gần Trường THPT Thanh Xuân, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố H thì thấy Nguyễn Duy Danh K điều khiển xe máy chở Nguyễn Tiến P vượt lên đi trước xe của T1. Thấy vậy T1 điều khiển xe máy đuổi theo chặn đầu xe của K lại nói: “Đánh nhau không”, sau đó T1 ép xe của K vào lề đường, rút chìa khóa xe máy của K và yêu cầu K, P xuống xe. Do sợ nên K, P xuống xe xin T1 tha cho. Lúc này T1 giả là cảnh sát, nói: “Hình sự đây, phạt chúng mày 500” tức yêu cầu K, P phải đưa cho T1 500.000 đồng thì mới cho đi.

Do không có tiền nên K gọi điện thoại cho Lê Hải N (là người cho K mượn xe máy). Khi N đến tiếp tục xin nhưng T1 không đồng ý và yêu cầu phải nộp 1.000.000 đồng mới cho đi, sau đó thấy K, P, N xin nhiều quá nên T1 nói: “Thôi năm trăm thả người”. Do K, P, N không mang theo tiền nên P đã gọi điện cho Lê Thu T để hỏi vay tiền và nói để nộp phạt cho Công an nên T đã chuyển khoản cho P vay 500.000 đồng. Do T1 yêu cầu đưa tiền mặt nên P đi xe máy của T1 đến chợ Tam Hưng đổi tiền mặt được 495.000 đồng, P tự góp thêm 20.000 đồng, được tổng số 515.000 đồng đưa cho T1 nhưng T1 không cầm. T1 dùng tay bóp vào mồm P, yêu cầu phải đưa đủ 1.000.000 đồng mới cho đi. Sau đó T1 dùng điện thoại Nokia 1280 màu đen của mình giả vờ gọi điện thoại nói: “Đi xuống đây nhanh”, mục đích để K, P, N sợ, phải đưa tiền cho T1.

Do đang đứng ở đường 427, sợ người đi đường nhìn thấy nên T1 yêu cầu K, P, N dắt xe sang đường bê tông lối rẽ vào trường THPT Thanh Xuân để tiếp tục đòi tiền. Lợi dụng sơ hở của T1, trong lúc dắt xe, K, P, N bỏ chạy mỗi người một hướng. K chạy về phía nhà văn hóa thôn Tê Quả thì bị T1 chạy đuổi theo, hô “Cướp”. Sau

- 3 -

đó T1 đi nhờ xe máy của một người đi đường (không rõ danh tính) để đuổi theo K, đến lối rẽ vào Nhà văn hóa thôn Tê Quả thì đuổi kịp, T1 xông vào dùng chân, tay đấm, đá vào mặt K khiến K bị sưng nề ở sống mũi, bầm tím ở khu vực mắt trái. Khi T1 đưa K quay lại khu vực lối rẽ vào trường THPT Thanh Xuân, yêu cầu K gọi P, N quay lại để tiếp tục đòi tiền thì lực lượng Công an xã Tam Hưng đến yêu cầu về trụ sở để làm việc.

Ngày 03/9/2023, Công an xã Tam Hưng bàn giao Trần Thanh T1 cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Oai để giải quyết theo thẩm quyền.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai truy tố Trần Thanh T1 về tội Cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Trần Thanh T1 từ 42 đến 48 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Duy Danh K, Nguyễn Tiến P và Lê Hải N không yêu cầu Trần Thanh T1 phải bồi thường thiệt hại nên không đề nghị gì; về tang vật: đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1280.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Ngày 02/9/2023 tại đường tỉnh lộ 427 thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố H, Trần Thanh T1 đã có hành vi sử dụng xe máy, chặn xe máy của Nguyễn Duy Danh K, rồi giả danh công an đe dọa bắt Nguyễn Duy Danh K, Nguyễn Tiến P và Lê Hải N phải đưa cho T1 số tiền 500.000 đồng. Nguyễn Tiến P đi vay tiền, đưa cho T1 515.000 đồng nhưng T1 không nhận, yêu cầu K, P, N phải đưa 1.000.000 đồng. Lợi dụng lúc T1 sơ hở K, P, N bỏ chạy, T1 đuổi kịp K và dùng chân, tay đánh K, yêu cầu gọi P, N quay lại đưa cho T1 1.000.000 đồng

- 4 -

nhưng chưa lấy được tiền thì bị Công an xã Tam Hưng phát hiện đưa về trụ sở để làm việc.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai truy tố Trần Thanh T1 theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của người khác mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Thanh Oai; gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi đe dọa, dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu tiền ăn tiêu, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo chưa thành khẩn khai báo nên không được xem xét áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo khai theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự; người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1 nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và thực hiện biện pháp đấu tranh phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Duy Danh K, Nguyễn Tiến P và Lê Hải N không yêu cầu Trần Thanh T1 phải bồi thường thiệt hại nên Tòa không xét.

[4] Vật chứng:

+ Đối với 01 chiếc xe máy Honda Dream biển kiểm soát 29X7 – 257.95 thu giữ của bị cáo T1, cơ quan điều tra đã tiến hành quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của anh Vương Quốc Tú, khi cho T1 mượn xe, anh T không biết việc T1 điều khiển xe đi cướp tài sản. Ngày 13/10/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Vương Quốc T là có căn cứ, đúng pháp luật

+ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI: 354148057289703, Trần Thanh T1 sử dụng để giả vờ gọi thêm người đến nhằm dọa K, P, N sợ, phải đưa tiền cho T1 là tài sản bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước.

- 5 -

[5] Về án phí: Bị cáo vi phạm pháp luật nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 168; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015

- Căn cứ Điều 106; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T1 phạm tội “Cướp tài sản”
  2. Xử phạt Trần Thanh T1 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 3/9/2023
  3. Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI: 3541480572897035 (theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 9/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai, Hà Nội).
  4. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Oai;
  • - THA huyện Thanh Oai;
  • - CA huyện Thanh Oai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kiểm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2023/HSST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản

  • Số bản án: 113/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger