Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/KDTM- PT.

Ngày 22/5/2024.

“V/v tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Thành.

Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thúy Hạnh và ông Nguyễn Xuân Tuấn.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Khiêm- Thư ký Toà án nhân dân TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội: bà Nguyễn Thị Hoa- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 22/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 217/2023/KTPT ngày 30/10/2023 về tranh chấp hợp đồng xây dựng do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2023/KDTM- ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXX- PT ngày 05/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 225/QĐPT- KDTM ngày 17/4/2024, giữa:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đ1

Trụ sở: số nhà C, đường C, phường A, quận A, TP Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Văn T- Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Minh S (theo Giấy ủy quyền số 05/UQ/2022 ngày 14/3/2022, ông S có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Công ty cổ phần T2

Trụ sở: số G đường L, phường P, quận T, TP Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: bà Ngô Thị Hồng H- Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Ngô Hoàng S1- Phó Giám đốc (theo Giấy ủy quyền số 06/HNUQ2023 ngày 16/02/2023, ông S1 có mặt tại phiên tòa).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phạm Công A, Văn phòng Luật sư T1 thuộc Đoàn Luật sư T3 (ông A có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời tự khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ1 (sau đây gọi tắt là nguyên đơn) trình bày:

Nguyên đơn có ký 03 Hợp đồng với Công ty cổ phần T2 (sau đây gọi tắt là bị đơn), cụ thể là Hợp đồng số 1812/20/HĐKT/HN-TS ngày 18/12/2020 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 1812 ), Hợp đồng số 2001/21/HĐKT/HN- TS ngày 20/01/2021 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 2001 ) và Hợp đồng số 2201/21/HĐKTHN-TĐT ngày 28/01/2021 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 2201) về việc triển khai thi công các gói thầu thuộc “Dự án khu đô thị và du lịch cao cấp T- Quảng Ninh”.

Trong quá trình thực hiện xuất phát từ lỗi của bị đơn dẫn đến nguyên đơn không thể tiếp tục thực hiện các công việc cụ thể như sau:

  • - Đối với Hợp đồng số 1812, theo điều kiện hợp đồng nguyên đơn được tạm ứng 20% giá trị hợp đồng sau khi hoàn thiện các thủ tục tạm ứng. Trên tinh thần thiện chí nguyên đơn đã tiến hành thi công trước khi nhận được tạm ứng từ bị đơn và đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện xong các cam kết như nội dung của hợp đồng tương ứng với các giai đoạn và còn thực hiện thêm các hạng mục vượt ngoài số tiền tạm ứng.
  • - Đối với Hợp đồng số 2001, nguyên đơn đã hoàn thành tiến độ theo kế hoạch (hoàn thành công tác thủ công phần móng) nhưng hiện nay chưa nhận được tiền tạm ứng theo hợp đồng (20% giá trị hợp đồng) cùng với các chi phí phát sinh cũng như khối lượng thực tế vượt quá cam kết.
  • - Đối với hợp đồng số 2201, thời điểm hiện tại nguyên đơn đã thi công xong phần móng 31 căn khu A (01 căn điều chỉnh thiết kế móng ngày 30/3/2021). Nguyên đơn đã hoàn tất thủ tục tạm ứng tuy nhiên ngày 26/4/2021 nguyên đơn mới nhận được 6% giá trị hợp đồng. Ngày 10/5/2021, nguyên đơn hoàn tất thủ tục tạm ứng lần 2 là 7% giá trị hợp đồng, tuy nhiên ngày 26/5/2021 nguyên đơn mới nhận được số tiền 2.660.000.000 đồng tạm ứng của hợp đồng trên. Số tiền tạm ứng còn lại của hợp đồng là 2.660.000.000 đồng (tương đương 7% giá trị hợp đồng) bị đơn chưa thực hiện dù nguyên đơn đã cung cấp đủ hồ sơ.

Ngày 08 và 11/6/2021, bị đơn đã gửi các Văn bản yêu cầu chấm dứt hợp đồng và buộc nguyên đơn phải bàn giao mặt bằng cho tổng thầu. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của nguyên đơn. Ngày 21/7/2021, bất chấp việc hai bên chưa chốt khối lượng thi công, bị đơn đã cho người chiếm công trình đang thi công và đuổi toàn bộ người của nguyên đơn khỏi công trình. Nay

nguyên đơn đề nghị bị đơn thanh toán tổng số tiền là 5.174.957.222 đồng, cụ thể như sau:

  1. Giá trị quyết toán của 03 hợp đồng như sau:
    1. Hợp đồng số 1812 là 5.047.459.094 đồng;
    2. Hợp đồng số 2001 là 4.069.598.955 đồng;
    3. Hợp đồng số 2201 là 4.640.682.564 đồng;
    4. Giá trị thi công dở dang của 03 hợp đồng là 516.601.731 đồng.

    Cộng (1) là: 14.274.342.344 đồng.

  2. Giá trị thiệt hại bên bị đơn phải bồi thường bao gồm:
    1. Chi phí phát hành chứng thư bảo lãnh ngân hàng 390.150.755 đồng;
    2. Chi phí Ban chỉ huy công trường 182.000.000 đồng;
    3. Chi phí thuê thiết bị thi công (04 tháng) 127.117.815 đồng/tháng x 04 tháng x 1.1 thuế VAT = 559.318.386 đồng.
  3. Chi phí lãi vay bên nguyên đơn đã thanh toán 1.013.189.013 đồng;
  4. Tổng cộng số tiền đề nghị thanh toán 16.419.000.498 đồng;
  5. Số tiền bên bị đơn đã thanh toán 11.244.043.276 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày ý kiến như sau:

I. Về việc ký kết các hợp đồng xây dựng như sau:

  1. Gói thầu 47 căn: ngày 18/12/2020, bị đơn và nguyên đơn ký Hợp đồng số 1812 về việc thi công phần thô và hoàn thiện mặt ngoài 47 căn nhà ở biệt thự tại dự án T; tiến độ thi công hoàn thành trước ngày 30/04/2021; riêng phần móng 20 căn biệt thự song lập 2 phải hoàn thành trước ngày 06/02/2021.
  2. Gói thầu 25 căn biệt thự song lập: ngày 18/01/2021, hai bên thống nhất nguyên đơn sẽ thi công thêm 18 căn biệt thự song lập là 03 căn số B1 SL03: 03, 04, 05 + 05 căn 10 B1SL04: 01, 02, 03, 04, 05 + 05 căn lô B1 SL05: 06, 07, 08, 09, 10 + 05 căn là B1 SL06: 06, 07, 08, 09, 10; các mẫu thiết kế gồm 15 căn SL02 và 03 căn SLG02. Ngày 22/01/2021, bị đơn bàn giao mặt bằng 18 căn song lập cho nguyên đơn theo thỏa thuận miệng giữa ông Mai Ngọc Đ với Ban lãnh đạo bị đơn. Ngày 25/01/2021, hai bên thống nhất nguyên đơn sẽ thi công thêm 7 căn biệt thự song lập gồm: 02 căn lô B1SL01: 09, 10 + 05 căn lô B1SL02: 06, 07, 08, 09, 10; mẫu thiết kế gồm 06 căn SL02 và 01 căn SLG02.

Ngày 04/5/2021, hai bên mới thống nhất được đơn giá chi tiết, đơn giá/m². trung bình là 3.528.736 đồng/m² và ký kết hợp đồng gói 25 căn, ngày ký hợp đồng thống nhất lùi ngày về 20/01/2021.

  1. Gói thầu 32 căn biệt thự khu A: ngày 04/02/2021, hai bên ký kết hợp đồng gói thầu 32 căn, ngày ký được thống nhất lùi ngày về 28/01/2021, giá trị hợp đồng là 38.000.825.212 đồng (đã bao gồm VAT), đơn giá chia trung bình 4.127.797 đồng/m².

II. Về việc nguyên đơn không thực hiện đúng cam kết:

  1. Chậm nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng:
    1. Gói thầu 47 căn: ngày 25/12/2020, nguyên đơn phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng của Quỹ tín dụng nhân dân T4 thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bảo lãnh không hợp lệ do Quỹ tín dụng nhân dân không có đủ điều kiện năng lực phát hành. Bị đơn đã yêu cầu nguyên đơn phát hành bảo lãnh của Ngân hàng T5.
    2. Ngày 15/01/2021, nguyên đơn nộp Thư bảo lãnh tiền tạm ứng. Ngày 05/02/2021, nguyên đơn nộp Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Việc chậm nộp Thư bảo lãnh thục hiện hợp đồng này nguyên đơn đã vi phạm điều 2 hợp đồng.
    3. Ngày 08/02/2021, bị đơn tạm ứng cho nguyên đơn lần 1 gói 47 căn, giá trị 2.200.000.000 đồng. Ngày 29/03/2021, bị đơn tạm ứng cho nguyên đơn lần 2 gói 47 căn, giá trị 4.103.936.000 đồng.
    4. Gói thầu 32 căn: ngày 31/03/2021, nguyên đơn mới nộp được Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng và Thư bảo lãnh tiền tạm ứng. Việc chậm nộp Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng này, nguyên đơn đã vi phạm điều 2 hợp đồng.
    5. Ngày 06/4/2021, hai bên thống nhất ký kết Phụ lục hợp đồng số 01 gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng, điều chỉnh điều khoản bảo lãnh (không khống chế thời gian nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng), gia hạn tiến độ và điều chỉnh tỷ lệ tạm ứng. Ngày 09/04/2021, hai bên đã thống nhất được nội dung chi tiết của Phụ lục, thống nhất ngày ký Phụ lục là ngày 22/03/2021.
    6. Ngày 23/4/2021, bị đơn tạm ứng cho nguyên đơn lần 1 gói 32 căn, giá trị 2.280.049 512 đồng. Ngày 26/05/2021, bị đơn tạm ứng cho nguyên đơn lần 2 gói 32 căn, giá trị 2.660.057.764 đồng.
    7. Gói thầu 25 căn: nguyên đơn vẫn chưa nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng và như vậy nguyên đơn đang vi phạm điều 1 hợp đồng dẫn tới hợp đồng chưa có hiệu lực theo quy định tại điều 17 hợp đồng số 2001.
  2. Chưa hoàn thiện bảng giá chi tiết cho từng hợp đồng, nguyên đơn chưa hoàn thiện việc rà soát, kiểm tra khối lượng từng công tác và phê duyệt đơn giá chi tiết cho hợp đồng đã ký làm cơ sở nghiệm thu, tính toán khối lượng, giá trị thanh quyết toán theo quy định tại điều 5 hợp đồng và các Biên bản làm việc đã ký.
  1. Chưa hoàn thiện biện pháp thi công và tiến độ, nguyên đơn chưa hoàn thiện lập biện pháp thi công và tiến độ thi công cho từng gói thầu theo quy định tại điều 1 và điều 7 hợp đồng và chưa thực hiện đúng các cam kết về lập và trình biện pháp thi công, tiến độ thi công chi tiết kèm nhân lực như nội dung các biên bản làm việc đã ký.
  2. Chậm tiến độ thi công:
    1. Gói thầu 47 căn: ngày 12/03/2021, nhà thầu nguyên đơn mới thi công hoàn thành cơ bản phần móng 20 căn biệt thự song lập (chưa nghiệm thu công tác lấp đất móng), vi phạm tiến độ thỏa thuận tại điều 4 hợp đồng. Cùng ngày, ông Mai Ngọc Đ đã làm việc cùng phòng kế hoạch và đại diện ban lãnh đạo của bị đơn xin giãn tiến độ hoàn thành toàn bộ phần móng 20 căn tới 30/3/2021. Phụ lục hợp đồng số 01 này sẽ được ký lùi ngày vào ngày 08/01/2021. Tiến độ tổng thể của gói thầu rất chậm; Ban quản lý dự án và tư vấn giám sát đánh giá không thể hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn đã ký (kể cả đã gia hạn tiến độ theo các Phụ lục hợp đồng).
    2. Gói thầu 32 căn: ngày 07/06/2021, nhà thầu nguyên đơn mới thi công hoàn thành cơ bản phần móng 31/32 căn biệt thự (chưa nghiệm thu công tác lấp đất móng), vi phạm tiến độ thỏa thuận tại điều 4 hợp đồng và Phụ lục hợp đồng đã ký. Tiến độ tổng thể của gói thầu rất chậm; Ban quản lý dự án và tư vấn giám sát đánh giá không thể hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn đã ký (kể cả đã gia hạn tiến độ theo các Phụ lục hợp đồng).
    3. Gói thầu 25 căn: ngày 07/4/2021, nhà thầu nguyên đơn mới thi công hoàn thành cơ bản phần móng 24/25 căn biệt thự (chưa nghiệm thu công tác lấp đất móng), vi phạm tiến độ thỏa thuận tại điều 4 hợp đồng. Tiến độ tổng thể của gói thầu rất chậm; Ban quản lý dự án và tư vấn giám sát đánh giá không thể hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn đã ký.
  3. Không khắc phục các tồn đọng như cam kết, nguyên đơn đã nhiều lần không thực hiện đúng các cam kết với bị đơn từ việc trình tiến độ, biện pháp thi công; đơn giá chi tiết; tăng cường nhân lực. Thậm chí, ngày 24/5/2021, ông Bùi Văn T là Tổng giám đốc và ông Phạm Quế L là Phó tổng giám đốc của nguyên đơn đã trực tiếp cam kết với ban giám đốc của bị đơn về việc sẽ tăng cường nhân lực, đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thiện khắc phục các tồn đọng ngay sau khi bị đơn tạm ứng đợt 2 của gói thầu 32 căn. Ngày 26/5/2021, bị đơn đã hoàn thành thủ tục chi tạm ứng đợt 2 gói thầu 32 căn nhưng nguyên đơn vẫn không hề có thực hiện các nội dung đã cam kết.

III. Nhân sự ít, không đủ để đáp ứng công việc, kể từ ngày khởi công,

nguyên đơn thường xuyên không đáp ứng đủ nhân lực phục vụ thi công 83 căn trong tổng số 104 căn theo hợp đồng. Công nhân trung bình 30 - 65 công nhân; riêng từ ngày 14/4/2021 đến ngày 25/4/2021 trung bình có 83 - 95 công nhân. Cán bộ kỹ thuật thường xuyên vắng mặt chỉ huy trưởng, số lượng cán bộ duy trì 2 - 5 cán bộ kỹ thuật.

IV. Vật tư thiếu kéo dài, không đủ để đáp ứng công việc, kể từ đầu tháng 03/2021, nguyên đơn thường xuyên thiếu hụt vật tư để thi công dẫn tới chậm tiến độ kéo dài.

V. Chấm dứt hợp đồng với nguyên đơn, do tiến độ thi công của nguyên đơn rất chậm kéo dài mà không có biện pháp khắc phục, ngày 13/5/2021 bị đơn đã gửi Văn bản số 17/21/CV- HN yêu cầu nguyên đơn khắc phục các tồn đọng trước 18/5/2021 nếu không bị đơn buộc phải thu hồi các gói thầu chậm trễ và thực hiện các thủ tục chấm dứt hợp đồng.

Ngày 19/5/2021, bị đơn gửi Văn bản số 22/21/CV - HN gia hạn thời gian khắc phục tồn đọng cho nguyên đơn đến hết ngày 25/5/2021.

Ngày 02/6/2021, bị đơn gửi Văn bản số 23/21/CV - HN gia hạn thời gian khắc phục tồn đọng cho nguyên đơn đến hết ngày 08/6/2021. Sau 3 lần gia hạn thời gian khắc phục tồn đọng cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn không hề thực hiện, không có biện pháp, kế hoạch khắc phục, ngày 08/6/2021 bị đơn đã gửi Văn bản số 26/21/CV- HN thông báo chấm dứt hợp đồng và yêu cầu nguyên đơn nghiệm thu, quyết toán.

Ngày 10/6/2021, nguyên đơn gửi Văn bản số 96/CV- TS yêu cầu bị đơn thanh toán khối lượng thực hiện và các chi phí thực hiện, tổng cộng 19,9 tỷ đồng, hoàn toàn không có căn cứ, không kèm theo bất cứ tài liệu nào chứng minh giá trị nêu trên. Hiện tại, bị đơn chưa nhận được bất kỳ hồ sơ nghiệm thu, hoàn công, thanh toán nào đã được ban chỉ huy bị đơn, tư vấn giám sát và ban Q ký xác nhận.

Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày bị đơn xác nhận đã ký 03 hợp đồng như đã trình bày và xác nhận số tiền bị đơn đã thanh toán như nguyên đơn trình bày là 11.244.043.276 đồng.

Giá trị sản lượng như nguyên đơn đưa ra, thì đến thời điểm hiện tại hai bên vẫn chưa chốt hoàn công nhưng con số 14.274.342.344 đồng mà nguyên đơn đưa ra thì cũng xấp xỉ con số khoảng 13,7 tỷ đồng mà nguyên đơn đưa ra.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên trình bày ý kiến như sau:

Nguyên đơn do người đại diện ủy quyền trình bày ý kiến: giá trị quyết toán của 03 hợp đồng tổng cộng là 14.274.342.344 đồng, cụ thể hợp đồng số 1812 là 5.047.459.094 đồng, hợp đồng số 2001 là 4.069.598.955 đồng và hợp đồng số 2201 là 4.640.682.564 đồng. Giá trị thi công dở dang của 03 hợp đồng số tiền là 516.601.731 đồng.

Giá trị thiệt hại nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường gồm:

  • - Chi phí phát hành chứng thư bảo lãnh ngân hàng là 390.150.755 đồng;
  • - Chi phí thanh toán cho ban chỉ huy công trường là 182.000.000 đồng;
  • - Chi phí thuê thiết bị thi công (04 tháng) là 127.117.815 đồng/tháng x 04 tháng x 1.1 thuế VAT = 559.318.386 đồng;
  • - Chi phí lãi vay bên nguyên đơn đã thanh toán là 1.013.189.013 đồng.

Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán là 16.419.000.498 đồng. Số tiền bên bị đơn đã thanh toán là 11.244.043.276 đồng.

Số tiền bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 16.419.000.498 đồng - 11.244.043.276 đồng = 5.174.957.222 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về chi phí thuê thiết bị thi công 04 tháng = 559.318.386 đồng. Do đó, số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 4.615.638.836 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi chậm trả.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và Luật sư trình bày ý kiến: tổng giá trị của 03 hợp đồng mà hai bên đã ký kết là 13.985.792.068 đồng, trong đó bị đơn đã thanh toán là 11.244.043.276 đồng. Về giá trị xây dựng công trình dở dang chỉ là 228.051.995 đồng. Bị đơn chỉ chấp nhận trả nguyên đơn số tiền xây dựng gốc đã thi công là 2.741.749.332 đồng. Đề nghị không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì không có căn cứ pháp lý.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2023/KDTM- ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc yêu cầu thanh toán theo các hợp đồng thi công xây dựng công trình đã ký, cụ thể là hợp đồng số 1812, hợp đồng số 2001 và hợp đồng số 2201 và các phụ lục hợp đồng kèm theo.
  2. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 4.615.638.836 đồng.
  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu giải quyết chi phí thuê thiết bị thi công.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với Bản án sơ thẩm nêu trên, bị đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số 10/2023/KDTM- ST ngày 28 và 31/5/2023 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ và đề nghị sửa lại Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn và đề nghị chỉ phải trả cho nguyên đơn 2.741.749.332 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Hội đồng xét xử giải thích quyền và nghĩa vụ cho các đương sự và hướng dẫn cho nguyên đơn và bị đơn hòa giải để giải quyết vụ án. Hai bên nguyên đơn và bị đơn đã có những thỏa thuận để hòa giải nhưng do số liệu hai bên còn có sự khác nhau nên không hòa giải thành và Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và Luật sư có kháng cáo trình bày:

Quá trình thực hiện các hợp đồng xây dựng, nguyên đơn có các vi phạm như sau:

  • - Chậm nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng;
  • - Chưa hoàn thiện bảng giá chi tiết cho từng hợp đồng, nguyên đơn chưa hoàn thiện việc rà soát, kiểm tra khối lượng từng công tác và phê duyệt đơn giá chi tiết cho hợp đồng đã ký làm cơ sở nghiệm thu, tính toán khối lượng, giá trị thanh quyết toán theo quy định tại điều 5 hợp đồng và các biên bản làm việc đã ký.
  • - Chưa hoàn thiện biện pháp thi công và tiến độ, nguyên đơn chưa hoàn thiện lập biện pháp thi công và tiến độ thi công cho từng gói thầu theo quy định tại điều 1, điều 7 hợp đồng, chưa thực hiện đúng các cam kết về lập và trình biện pháp thi công, tiến độ thi công chi tiết kèm nhân lực như nội dung các biên bản làm việc đã ký.
  • - Chậm tiến độ thi công;
  • - Không khắc phục các tồn đọng như cam kết;
  • - Nhân sự ít, không đủ để đáp ứng công việc;
  • - Vật tư thiếu kéo dài, không đủ để đáp ứng công việc.

Do tiến độ thi công của nguyên đơn rất chậm kéo dài mà không có biện pháp khắc phục nên bị đơn quyết định chấm dứt các hợp đồng xây dựng đối với nguyên đơn.

Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn và bị đơn chỉ phải trả cho nguyên đơn 2.741.749.332 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: những căn cứ kháng cáo của bị đơn đều đã được trình bày tại Tòa án sơ thẩm, không có gì mới. Thực tế nguyên đơn đã phát hành bảo lãnh và bị đơn đã chấp nhận và nhận bảo lãnh, chấp nhận cho nguyên đơn xây dựng. Trong thời gian giáp tết và dịch covid hoành hành, nguyên đơn đã làm sao nhanh nhất để có được các bảo lãnh của ngân hàng. Khi công nhân nghỉ dịch, nguyên đơn đã bố trí sao cho tốt nhất và hợp lý nguồn nhân lực để thực hiện hợp đồng xây dựng đã ký kết. Bị đơn thừa nhận là công trình xây dựng đã được hoàn thành và không khiếu nại về chất lượng thi công ... Bản thân bị đơn chậm bàn giao mặt bằng cho nguyên đơn thi công, như hợp đồng thi công 25 căn biệt thự nhưng bị đơn chỉ bàn giao mặt bằng 24 căn. Ngoài ra, bị đơn còn chậm thanh toán tiền tạm ứng cho nguyên đơn, dẫn đến việc nguyên đơn phải vay tiền để mua vật liệu xây dựng, trả tiền cho công nhân xây dựng và cố gắng hoàn thành việc xây dựng. Do đó, việc bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng là vi phạm pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.

Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và tiến hành phiên tòa. Thư ký đã làm đầy đủ nhiệm vụ và phổ biến nội quy phiên tòa. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đã được Hội đồng xét xử giải thích để hai bên tự thỏa thuận với nhau, được tham gia hỏi, tranh luận và trình bày căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về nội dung vụ án:

kháng cáo của bị đơn đề nghị sửa lại Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn và đề nghị chỉ phải trả cho nguyên đơn 2.741.749.332 đồng. Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy kháng cáo của bị đơn không có căn cứ để chấp nhận, hai bên không hòa

giải được với nhau nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của Luật sư, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn và bị đơn là hai pháp nhân được thành lập hợp pháp. Tranh chấp hợp đồng xây dựng là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có trụ sở tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định và đã nộp tiền án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của bị đơn là hợp lệ.

Xét nội dung kháng cáo của bị đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các hợp đồng số 1812, số 2001 và số 2201 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn để thi công hạng mục phần thô và hoàn thiện mặt ngoài, phục vụ cho công trình “nhà ở biệt thự” thuộc dự án “khu đô thị và du lịch cao cấp T”. Các hợp đồng này đều do người đại diện hợp pháp của các bên ký kết, nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, các đương sự không có ý kiến gì về việc giao kết hợp đồng giữa hai bên nên các hợp đồng này có giá trị thi hành.

Quá trình thi công căn cứ vào các biên bản số 01 ngày 11/3/2021 (đối với hợp đồng số 1812), biên bản hiện trường ngày 04/5/2021 và ngày 19/4/2021 (đối với hợp đồng số 2001) và biên bản hiện trường ngày 10/5/2021 (đối với hợp đồng số 2201) đều thể hiện nguyên đơn xây dựng đạt yêu cầu kỹ thuật. Bị đơn cũng không có ý kiến về chất lượng thi công công trình của nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ để xác định chất lượng thi công công trình của nguyên đơn là đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, phù hợp với các quy định của các hợp đồng đã ký.

Về trình bày của bị đơn về việc nguyên đơn chậm nộp thư bảo lãnh vào ngày 15/01/2021 và ngày 05/02/2021 là vi phạm điều 2 hợp đồng. Tuy nhiên, theo

các bên trình bày thì trước đó vào ngày 25/12/2020, nguyên đơn đã phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tiền tạm ứng của Quỹ tín dụng nhân dân T4. Điều này là phù hợp với quy định tại khoản 2.1 điều 2 hợp đồng “Bên nhận thầu phải nộp bảo lãnh (...) trong vòng 07 ngày sau khi hợp đồng đã được ký kết”. Trong hợp đồng cũng không quy định cụ thể điều kiện của tổ chức phát hành bảo lãnh hay chỉ định đích danh một tổ chức phát hành bão lãnh cho hợp đồng. Khi bị đơn có ý kiến về việc Quỹ tín dụng phát hành bảo lãnh, nguyên đơn đã thực hiện lại việc phát hành bảo lãnh và bị đơn đã đồng ý nhận bảo lãnh của nguyên đơn. Ngân hàng TMCP H1 đã phát hành thư bảo lãnh hoàn tiền tạm ứng số 04136010031085 ngày 15/01/2021, thư sửa đổi bảo lãnh số 04136010031085 ngày 11/03/2021 và thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 04136010031674 ngày 05/02/2021. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng trình bày việc thực hiện lại việc phát hành tạm ứng có nhiều lý do khách quan như cần thời gian làm thủ tục tất toán với Quỹ tín dụng để chuyển chi phí thực hiện thủ tục phát hành bảo lãnh sang Ngân hàng. Thời điểm đó vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh C và thời gian thực hiện thủ tục bảo lãnh vào giai đoạn Tết dương và Tết âm lịch nên cũng ảnh hưởng đến tiến độ phát hành. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không có căn cứ để xem xét ý kiến của bị đơn về việc nguyên đơn vi phạm khoản 2.1 điều 2 hợp đồng về việc chậm phát hành bảo lãnh. Bản thân bị đơn đã chấp nhận bảo lãnh là thể hiện việc đồng ý với việc nguyên đơn phát hành bảo lãnh chậm.

Quá trình triển khai thực hiện các hợp đồng, theo văn bản số 22/21/CV- HN ngày 01/5/2021 của bị đơn cho rằng nguyên đơn “chậm tiến độ 36 ngày, ngày 26/3/2021 hai bên mới ký phụ lục hợp đồng gia hạn tiến độ thi công phần móng tới ngày 30/3/2021”. Việc hai bên thỏa thuận kéo dài thời hạn thi công hoàn toàn là tự nguyện, hợp lệ và không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do vậy, việc nguyên đơn hoàn thành thi công vào ngày 12/3/2021 là trước thời gian hai bên đã thỏa thuận, không vi phạm nội dung phụ lục hợp đồng đã ký.

Ngoài ra, căn cứ theo khoản 4.2 điều 4 hợp đồng về gia hạn thời gian hoàn thành, mục a quy định “có sự thay đổi (...) thiết kế làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng”, mục c quy định “sự chậm trễ (...) công tác bố trí vốn và thanh toán”. Theo văn bản số 72/CV- TSI ngày 15/4/2021 của nguyên đơn và văn bản số 10/21/CV- HN ngày 22/4/2021 của bị đơn, đối với hợp đồng 1812, hồ sơ thiết kế thi công chưa được chủ đầu tư phê duyệt, bị đơn chưa nhận được hồ sơ thiết kế hoàn chỉnh. Theo các văn bản số 69/CV- TSI ngày 31/3/2021, văn bản số 72/CV- TSI ngày 15/4/2021 của nguyên đơn và biên bản họp giao ban ngày 28/4/2021 có đại diện trưởng ban quản lý dự án, nguyên đơn và bị đơn đều thể

hiện việc bị đơn chưa thực hiện đúng, đủ tiền tạm ứng vốn cho nguyên đơn. Từ những tài liệu chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy trường hợp có vi phạm thời hạn thi công thì nguyên đơn cũng không có lỗi trong việc chậm tiến độ thi công theo đúng quy định của hợp đồng được ký giữa hai bên.

Từ những phân tích trên cho thấy nguyên đơn không chậm tiến độ thi công như bị đơn trình bày tại phiên tòa phúc thẩm và nhận định của Tòa án sơ thẩm là có căn cứ để chấp nhận.

Về hợp đồng số 2001, theo bị đơn trình bày thì nguyên đơn vẫn chưa nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng theo quy định, vi phạm điều 1 hợp đồng. Tuy nhiên, theo lời khai của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Ngân hàng TMCP H1 đã phát hành Thư bảo lãnh hoàn tiền tạm ứng số 04136010034657 và Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 04136010034666 cùng ngày 27/5/2021. Theo điều 1 hợp đồng quy định bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tạm ứng hợp đồng không có thời hạn phát hành. Do vậy, việc Ngân hàng đã tiến hành phát hành thư bảo lãnh là phù hợp với quy định của hợp đồng.

Về việc thanh toán tạm ứng hợp đồng, khoản 5.2 điều 5 hợp đồng có quy định “bên A sẽ tạm ứng cho bên B 20% giá trị hợp đồng trong vòng 05 ngày làm việc sau khi bên B thi công hoàn thành toàn bộ phần móng và Bên A nhận được hồ sơ tạm ứng”. Ngày 07/4/2021, là ngày nguyên đơn hoàn thành toàn bộ phần móng và ngày 27/5/2021, Ngân hàng đã phát hành thư bảo lãnh đối với hợp đồng này. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán tại các văn bản số 78/CV- TSI ngày 05/5/2021, số 84/CV- TSI ngày 17/5/2021 và số 85/CV-TSI ngày 18/5/2021. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại bị đơn vẫn chưa thanh toán khoản tiền tạm ứng nào cho nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng điều 5 của hợp đồng.

Về việc thực hiện hợp đồng, theo văn bản số 22/21/CV- HN ngày 01/5/2021 của bị đơn thì nguyên đơn “chậm tiến độ 07 ngày”, ngày hoàn thành là ngày 07/4/2021. Hội đồng xét xử nhận thấy các bên đều trình bày hợp đồng được ký thực chất vào ngày 04/5/2021 và được ký lùi về ngày 20/01/2021. Điều này thể hiện nguyên đơn có thiện chí thực hiện hợp đồng và đã triển khai thi công trước thời điểm thực chất giao kết hợp đồng và đã hoàn thiện việc thi công phần móng vào trước thời điểm giao kết hợp đồng trên thực tế. Nếu việc nguyên đơn thi công chậm 07 ngày làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình thì tại sao bị đơn vẫn thực hiện việc giao kết hợp đồng với nguyên đơn vào ngày 04/5/2021. Việc này cho thấy bị đơn đồng ý với tiến độ thi công của nguyên đơn nên mới tiếp tục ký kết hợp đồng số 2001 với nguyên đơn. Ngoài ra, căn cứ theo khoản 4.2 điều 4 hợp đồng về gia hạn thời gian hoàn thành, mục c quy định “sự chậm trễ (...) công

tác bố trí vốn và thanh toán”. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên đơn không có lỗi trong việc chậm tiến độ thi công theo đúng quy định của hợp đồng được ký giữa hai bên.

Về hợp đồng số 2201 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 22/3/2021, theo lời khai của bị đơn thì ngày 31/3/2021 nguyên đơn mới nộp được thư bảo lãnh là vi phạm điều 2 hợp đồng. Tuy nhiên, căn cứ theo phụ lục hợp đồng số 01 được ký thì bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tạm ứng hợp đồng không có thời hạn phát hành. Nếu bị đơn không đồng ý với thời điểm phát hành thư bảo lãnh thì bị đơn đã không tiến hành ký phụ lục hợp đồng với nguyên đơn. Phụ lục hợp đồng được ký kết dựa trên thỏa thuận của hai bên, hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái các quy định của pháp luật. Phụ lục hợp đồng là một phần không tách rời của hợp đồng. Do vậy, việc Ngân hàng đã tiến hành phát hành thư bảo lãnh hoàn tiền tạm ứng số 04136010033052 và thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng số 04136010033061 cùng ngày 31/3/2021 là phù hợp với quy định của hợp đồng và phụ lục hợp đồng.

Sau khi nguyên đơn thực hiện xong thủ tục phát hành tạm ứng, ngày 26/4/2021, bị đơn tạm ứng lần đầu tiên cho nguyên đơn số tiền là 2.280.049.512 đồng (tương ứng với 6% giá trị hợp đồng) và ngày 26/5/2021, bị đơn tiến hành thanh toán tạm ứng lần 2 cho nguyên đơn với số tiền là 2.660.057.764 đồng (tương đương 7% giá trị của hợp đồng) điều này thể hiện bị đơn cũng đã chấp nhận các thư bảo lãnh và tiếp tục giao cho nguyên đơn thi công công trình. Căn cứ theo phụ lục hợp đồng và công văn số 22/21/CV- HN ngày 01/5/2021 của bị đơn thì chỉ riêng đối với lần tạm ứng đầu tiên, bị đơn đã quá thời hạn quy định về thanh toán tạm ứng là “05 ngày làm việc”. Đối với lần tạm ứng thứ hai yêu cầu hoàn thành thi công 50% khối lượng, theo công văn số 22/21/CV- HN ngày 01/5/2021 của bị đơn thì nguyên đơn hoàn thành 95% khối lượng công việc vào ngày 30/3/2021, trong khi thỏa thuận giữa các bên yêu cầu nguyên đơn hoàn thành công việc vào ngày 30/4/2021. Điều đó cho thấy nguyên đơn đã gần như hoàn thành công việc trước thời hạn yêu cầu và đã hoàn thành trên 50% so với yêu cầu của tạm ứng lần 2. Tuy nhiên, đến ngày 26/5/2021 bị đơn mới tiến hành thanh toán tạm ứng lần 2 cho nguyên đơn, cũng quá thời hạn 05 ngày làm việc theo phụ lục hợp đồng. Các công văn của nguyên đơn, cụ thể số 68/CV- TSI ngày 31/3/2021, số 72/CV- TSI ngày 15/4/2021, số 78/CV- TSI ngày 05/5/2021, số 80/CV- TSI ngày 10/5/2021 đều thể hiện bị đơn không đáp ứng được tiến độ thanh toán tiền tạm ứng. Việc nguyên đơn chưa hoàn thành được 100% tiến độ công việc có nguyên nhân là do bị đơn không thanh toán tiền tạm ứng theo đúng thời hạn đã cam kết.

Do vậy, căn cứ theo khoản 4.2 điều 4 hợp đồng về gia hạn thời gian hoàn thành, mục c quy định “sự chậm trễ (...) công tác bố trí vốn và thanh toán”, nên xác định nguyên đơn không có lỗi khi chưa hoàn thành được 100% tiến độ công việc.

Về căn cứ chấm dứt hợp đồng theo các điều 10 và 11 hợp đồng tại khoản 10.2 quy định về việc chấm dứt hợp đồng của bên giao thầu, theo những nhận định nêu trên thì nguyên đơn không vi phạm nội dung nào, việc bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng với nguyên đơn là không có cơ sở. Đối với khoản 11.2 điều 11 hợp đồng có quy định tại mục a “Bên giao thầu không nhận được số tiền thanh toán trong vòng 45 ngày kể từ ngày bên giao thầu nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ”. Như đã phân tích bên trên thì đến nay nguyên đơn vẫn chưa nhận được bất kỳ một khoản tiền tạm ứng nào của bị đơn đối với hợp đồng này mặc dù đã quá 45 ngày theo nội dung hợp đồng về thời hạn thanh toán. Do vậy, việc nguyên đơn chấm dứt hợp đồng là không vi phạm, phù hợp với nội dung hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Về các ý kiến khác của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Về việc nguyên đơn chưa hoàn thiện bảng giá chi tiết cho các hợp đồng, thì tại khoản 5.1 điều 5 các hợp đồng đều quy định về giá trị của hợp đồng và có nội dung “Giá hợp đồng được lập theo đề xuất của bên nhận thầu đã được bên giao thầu chấp thuận”. Điều này thể hiện giá trị hợp đồng đều đã được các bên thỏa thuận và thực hiện giao kết hợp đồng, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét ý kiến này của bị đơn.
  • - Về việc chưa hoàn thiện biện pháp thi công và tiến độ, trường hợp chưa hoàn thiện biện pháp thi công thì nguyên đơn không thể có căn cứ để tiến hành thi công và hoàn thiện hạng mục thi công như công văn số 22/21/CV-HN ngày 01/5/2021 của bị đơn. Về tiến độ thi công đã được hai bên thỏa thuận theo các hợp đồng và phụ lục hợp đồng đã ký. Do vậy, Hội đồng xét xử cũng không có căn cứ để xem xét ý kiến này của bị đơn.
  • - Về việc không khắc phục các tồn đọng như cam kết, cụ thể là nhân sự ít và vật tư thiếu kéo dài, không đủ đáp ứng công việc, theo lời khai của nguyên đơn thì các tồn đọng nêu trên có nguyên nhân là do bị đơn không thanh toán hoặc tiến độ thanh toán tiền tạm ứng quá chậm, dẫn đến việc nguyên đơn không có đủ nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu của bị đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy ý kiến của nguyên đơn trình bày là hợp lý, phù hợp với các nhận định đã phân tích bên trên, phù hợp với lời khai của các đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét ý kiến này của bị đơn.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo lời khai của nguyên đơn, do các hợp đồng số 1812 và số 2201 chỉ thỏa thuận về giá trị của toàn bộ hợp đồng khi nguyên đơn hoàn thành 100% các hạng mục thi công theo nội dung hợp đồng. Tuy nhiên, do bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng và không tạo điều kiện cho nguyên đơn tiếp tục thi công thực hiện hợp đồng. Do vậy, nguyên đơn đề nghị căn cứ áp giá của hợp đồng số 2001 đã ký giữa hai bên vào các hạng mục thi công nguyên đơn đã hoàn thành trên thực tế để làm căn cứ thanh quyết toán các hợp đồng do các hợp đồng đều được triển khai thi công gần nhau, chi phí nhân công, nguyên vật liệu và các chi phí khác để thực hiện các hợp đồng đều gần như nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy ý kiến của nguyên đơn là hợp lý, phù hợp với thời điểm bắt đầu tiến hành thi công thực tế và thời điểm hoàn thành tiến độ thi công. Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận ý kiến của nguyên đơn về việc áp giá của hợp đồng số 2001 để tiến hành thanh quyết toán đối với các hợp đồng số 1812 và số 2201 là phù hợp với thực tiễn thi công và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về yêu cầu thanh toán giá trị công trình dở dang và giá trị thiệt hại bao gồm chi phí phát hành chứng thư bảo lãnh ngân hàng, chi phí ban chỉ huy công trường, chi phí thuê thiết bị thi công và chi phí lãi vay của nguyên đơn. Căn cứ theo khoản 4 điều 11 các hợp đồng về việc thanh toán khi chấm dứt hợp đồng thì “Bên giao thầu phải thanh toán cho bên nhận thầu”. Tại các khoản 4, 5 điều 146 Luật Xây dựng năm 2014 cũng quy định là “Bên giao thầu phải bồi thường cho bên nhận thầu trong các trường hợp sau: a) Do nguyên nhân của bên giao thầu dẫn tới công việc theo hợp đồng bị gián đoạn, thực hiện chậm tiến độ; d) Bên giao thầu chậm thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng” và “Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng không phù hợp với quy định thì sau khi thực hiện nghĩa vụ hoặc áp dụng biện pháp sửa chữa còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu bên kia còn bị những thiệt hại khác, mức bồi thường thiệt hại phải tương đương với mức tổn thất của bên kia”. Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận các yêu cầu thanh toán của nguyên đơn là phù hợp với quy định trong các hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về yêu cầu lãi suất chậm thanh toán, theo quy định tại khoản 2 điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ- CP ngày 22/4/2015 thì nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn thanh toán lãi suất chậm thanh toán. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày không yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền này là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét là đúng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp, bao gồm hồ sơ quyết toán các hợp đồng, hồ sơ quyết toán phần giá trị thi công dở dang, các chi phí về chi phí phát hành chứng thư bảo lãnh ngân hàng, chi phí ban chỉ huy công trường, chi phí thuê thiết bị thi công và chi phí lãi vay của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 5.174.957.222 đồng, cụ thể như sau:

  1. Căn cứ vào hồ sơ quyết toán do nguyên đơn giao nộp thì giá trị quyết toán của 03 hợp đồng tổng cộng là 14.274.342.344 đồng. Giá trị thi công dở dang của 03 hợp đồng số tiền là 516.601.731 đồng;
  2. Giá trị thiệt hại bên bị đơn phải bồi thường bao gồm:
    • - Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và ý kiến của Ngân hàng TMCP H1 thì chi phí phát hành chứng thư bảo lãnh Ngân hàng là 390.150.755 đồng;
    • - Căn cứ vào danh sách thanh toán lương, các phiếu chi và các Ủy nhiệm chi thì chi phí thanh toán cho ban chỉ huy công trường là 182.000.000 đồng;
    • - Chi phí thuê thiết bị thi công (04 tháng) (chưa thấy tài liệu chứng cứ về yêu cầu này) 127.117.815 đồng/tháng x 04 tháng x 1.1 thuế VAT = 559.318.386 đồng;
    • - Chi phí lãi vay bên nguyên đơn đã thanh toán 1.013.189.013 đồng.
  3. Tổng cộng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là 16.419.000.498 đồng;
  4. Số tiền bên bị đơn đã thanh toán là 11.244.043.276 đồng.

Như vậy, bị đơn có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 16.419.000.498 đồng - 11.244.043.276 đồng = 5.174.957.222 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn xin rút yêu cầu chi phí thuê thiết bị thi công là 559.318.386 đồng, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 5.174.957.222 đồng - 559.318.386 đồng = 4.615.638.836 đồng là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy nội dung kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội tại phiên tòa, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về án phí: bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Các điều 30, 35, 39, 293, 294, 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Luật xây dựng năm 2020;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần T2;
  2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2023/KDTM- ST ngày 28 và 31/5/2023 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ.
  3. Công ty cổ phần T2 phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 33357 ngày 18/9/2023 Của Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ.

Bản án phúc thẩm xử công khai và có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND quận Tây Hồ;
  • - Chi cục THADS quận Tây Hồ;
  • - Lưu HS, VP, HCTP, TKT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/KDTM- PT. ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • Số bản án: 113/2024/KDTM- PT.
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xây dựng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger