|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/DS-ST
Ngày: 22-4-2024
V/v tranh chấp dân sự
hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân và ông Võ Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 313/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-DS ngày ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.
Địa chỉ: Tòa nhà H N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Quang T - Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Phúc H - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Q nợ.
Ủy quyền lại cho ông Trần Bình H1 – Chức vụ: Chuyên viên hiện trường (có mặt).
Địa chỉ: 2 N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp
Bị đơn:
1/ Ông Huỳnh Vũ B, sinh năm 1978 (vắng mặt)
2/ Bà Phan Thị Tuyết N, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/8/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 (gọi tắt là BV B2) với ông Huỳnh Vũ B và bà Phan Thị Tuyết N ký Hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0782200025200 ngày 29/11/2022 số tiền gốc 950.000.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn lưu động buôn bán lúa gạo; thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 06/01/2023 đến ngày 05/01/2024); lãi suất trong hạn 15%/năm được điều chỉnh biên độ 4%/năm do nguyên đơn quyết định. Lãi chậm trả vốn là 150% lãi trong hạn và lãi phạt lãi chậm trả lãi là 10%. Phương thức trả lãi vào ngày 06 định kỳ 03 tháng/lần, trả nợ gốc vào ngày 05/01/2024. Bị đơn đã nhận đủ tiền gốc 950.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 0782200025200001 ngày 06/01/2023.
Ngoài ra, BV B2 và ông Huỳnh Vũ B đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng điện từ số 07823000007TD ngày 06/02/2023, theo đó BV B2 đã cấp hạn mức tín dụng cho ông Huỳnh Vũ B là 40.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi triệu đồng), lãi suất 35.04%/năm. Từ ngày 06/02/2023, ông Huỳnh Vũ B đã sử dụng thẻ tín dụng nêu trên với hạn mức thẻ là 40.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi triệu đồng).
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho hợp đồng tín dụng hạn mức và hợp đồng cấp thẻ tín dụng nêu trên, ông Huỳnh Vũ B và Phan Thị Tuyết N đã ký với BV B2 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0782200025300 ngày 05/01/2023, số công chứng: 19, quyến số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn Công T1 chứng nhận. Tài sản thế chấp gồm:
Tài sản 1: Diện tích đất 154m², thửa đất 134, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI228109, số vào sổ cấp GCN: CS05961 do Sở T2 cấp cho ông Huỳnh Vũ B vào ngày 06/10/2022. Đất toạ lạc tại xã H, huyện P, tỉnh An Giang
Tài sản 2: Diện tích đất 129,5m², thửa đất 30, tờ bản đồ số 8, loại đất ở nông thôn và nhà ở gắn liền trên thửa 30, có diện tích xây dựng 85,5m², diện tích sàn 85,5m², kết cấu Móng cột BTCT, nền gạch ceramic+gạch tàu, vách tường, mái tole, nhà cấp 4, số tầng 1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 256305, số vào sổ cấp GCN: CH04678 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Huỳnh Vũ B và bà Phan Thị Tuyết N vào ngày 27/7/2011. Nhà và đất toạ lạc tại Đường liên huyện, tổ B, ấp H, xã H huyện P, tỉnh An Giang.
Trong quá trình vay vốn bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các nội dung cam kết thỏa thuận mà hai bên đã ký kết. Ông B và bà N trả lãi kỳ thứ nhất vào ngày 05/4/2023. Ông B trả gốc và lãi thẻ tín dụng 4.000.000 đồng (gốc 2.000.000 đồng + lãi 2.000.000 đồng). Từ đó đến nay bị đơn không trả gốc và lãi. BV B2 đã nhiều lần liên hệ làm việc, đôn đốc, yêu cầu bị đơn thực hiện
nghĩa vụ thanh toán khoản nợ. Nhưng cho đến nay, ông/bà Huỳnh Vũ B, Phan Thị Tuyết N vẫn không trả hết nợ cho BV B2. Tạm tính đến hết ngày 22/4/2024, ông Huỳnh Vũ B, bà Phan Thị Tuyết N còn nợ BV B2 tổng số tiền đối với hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 07822000025200 ngày 29/11/2022 số tiền nợ gốc: 950.000.000 đồng; lãi trong hạn 103.379.760 đồng; lãi chậm trả lãi: 5.761.942 đồng, lãi và lãi phạt chậm vốn 57.448.973 đồng. Tổng cộng là 1.116.590.675 đồng. Đối với giấy đề nghị liêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 07823000007TD ngày 06/02/2023 ông B nợ gốc 38.000.000 đồng, lãi 12.330.240 đồng, tổng cộng là 50.330.240 đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu như sau:
Buộc ông/bà Huỳnh Vũ B, Phan Thị Tuyết N phải thanh toán ngay cho BV B2 tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 22/4/2024 là 1.116.590.675 đồng. Buộc ông/bà Huỳnh Vũ B, Phan Thị Tuyết N phải tiếp tục trả toàn bộ số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 23/4/2024 theo mức lãi suất của Hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0782200025200 ngày 29/11/2022 đến khi thanh toán dứt nợ.
Buộc ông Huỳnh Vũ B thanh toán cho BV B2 nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 50.330.240 đồng. Buộc ông Huỳnh Vũ B phải tiếp tục trả toàn bộ số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 23/4/2024 theo mức lãi suất của Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 07823000007TD ngày 06/02/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Trường hợp ông/bà Huỳnh Vũ B, Phan Thị Tuyết N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ tổng nợ nêu trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0782200025300 ngày 05/01/2023 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán thì ông B và bà N phải tiếp tục trả hết nợ còn thiếu.
Tại phiên toà nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Phan Thị Tuyết N về việc yêu cầu bà N và ông B liên đới trả vốn và lãi đối với Hợp đồng cấp thẻ tín dụng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt khi xét xử không rõ lý do, cho thấy với chưa chấp hành theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do rút yêu cầu, về
việc bà Phan Thị Tuyết N có trách nhiệm liên đới cùng ông Huỳnh Vũ B trả tiền đối với Thẻ tín dụng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Huỳnh Vũ B, bà Phan Thị Tuyết N có trách nhiệm liên đới trả nợ đối với hợp đồng tín dụng, cụ thể: Nợ gốc: 950.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 103.3793760 đồng; Lãi chậm trả: 5.761.942 đồng; lãi nợ gốc quá hạn: 57.448.973 đồng. Tổng cộng: 1.116.590.675 đồng và tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tính dụng hạn mức đến khi trả dứt nợ.
- Buộc ông Huỳnh Vũ B có trách nhiệm trả nợ đối với hợp đồng mở thẻ tín dụng, cụ thể: Nợ gốc: 38.000.000 đồng; Lãi thẻ tín dụng: 12.330.240 đồng. Tổng cộng 50.330.240 đồng và tiếp tục tính lãi theo hợp đồng thẻ tính dụng đến khi trả dứt nợ.
- Về chi phí tố tụng và án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 10/8/2023 và tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông Huỳnh Vũ B và bà Phan Thị Tuyết N liên đới trả cho Ngân hàng vốn vay và lãi tính theo Hợp đồng tín dụng ngày 29/11/2022 và yêu cầu ông Huỳnh Vũ B trả vốn vay theo hợp đồng mở thẻ ngày 06/02/2023, đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ông B và bà N có nơi cư trú tại ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, vì thế Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2.2] Tại phiên toà nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Phan Thị Tuyết N về việc yêu cầu bà liên đới cùng ông B trả gốc vay thẻ tín dụng 38.000.000 đồng và lãi phát sinh. Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bà Phan Thị Tuyết N số tiền vay 38.000.000 đồng và lãi theo hợp đồng thẻ tín dụng.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn liên đới trả nợ gốc và nợ lãi của hợp đồng tín dụng hạn mức tính đến ngày 22/4/2024 là 1.116.590.675 đồng và tiếp tục yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng hạn mức. Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu ông B trả tiền vay thẻ tín dụng gốc và lãi tính đến này xét xử 22/4/2024 là 50.330.240 đồng. Trường hợp ông B và bà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ tổng nợ thì BV B2 có quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán thì ông B và bà N phải tiếp tục trả hết nợ còn thiếu.
[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0782200025200 ngày 29/11/2022 và Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 07823000007TD ngày 06/02/2023 giữa hai bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, được lập thành văn bản là phù hợp với Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 319, 463, 466 Bộ luật Dân sự nên các hợp đồng nêu trên phát sinh hiệu lực. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông B và bà N trả nợ gốc 950.000.000 đồng, yêu cầu ông B trả vốn vay thẻ tín dụng 38.000.000 là có căn cứ.
[3.4] Về lãi suất Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với tiền lãi của Hợp đồng tín dụng hạn mức nguyên đơn tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 166.590.675 đồng. Trong đó lãi trong hạn 103.379.760 đồng (lãi suất 15%/năm, điều chỉnh từ ngày 06/10/2023 là 13,5%/năm); lãi chậm trả lãi 5.761.942 đồng (lãi suất 10%/năm); lãi chậm trả vốn 57.448.973 đồng (lãi suất 150% lãi suất cho vay trong hạn). Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn từ ngày 06/4/2023. Việc nguyên đơn áp dụng mức lãi suất và yêu cầu bị đơn phải trả là phù hợp với khoản 4 Điều 1; khoản 2 Điều 7 Hợp đồng tín dụng hạn mức và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/20190NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 23/4/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ.
Đối với tiền lãi của hợp đồng thẻ tín dụng nguyên đơn tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 12.330.240 đồng với mức lãi suất 35.04%/năm. Việc nguyên đơn áp dụng mức lãi suất và yêu cầu ông B phải trả là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.5] Về tài sản thế chấp Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0782200025300 ngày 05/01/2023 được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện P vào ngày 05/01/2023 đúng quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực. Tại Điều 3 hợp đồng thế chấp quy định nghĩa vụ bảo đảm cho các khoản vay, lãi của hợp đồng tín dụng hạn mức và hợp đồng cấp thẻ tín dụng.
Do đó trong trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng hạn mức và hợp đồng thẻ tín dụng, thì nguyên đơn có
quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 154m², thửa đất 134, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI228109, số vào sổ cấp GCN: CS05961 do Sở T2 cấp cho ông Huỳnh Vũ B vào ngày 06/10/2022. Đất toạ lạc tại xã H, huyện P, tỉnh An Giang và diện tích đất 129,5m², thửa đất 30, tờ bản đồ số 8, loại đất ở nông thôn và nhà ở gắn liền trên thửa 30, có diện tích xây dựng 85,5m², diện tích sàn 85,5m², kết cấu Móng cột BTCT, nền gạch ceramic+gạch tàu, vách tường, mái tole, nhà cấp 4, số tầng 1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 256305, số vào sổ cấp GCN: CH04678 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Huỳnh Vũ B và bà Phan Thị Tuyết N vào ngày 27/7/2011. Nhà và đất toạ lạc tại Đường liên huyện, tổ B, ấp H, xã H huyện P, tỉnh An Giang để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán thì ông B và bà N phải tiếp tục trả hết nợ còn thiếu.
[3.5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 850.000 đồng, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Nguyên đơn đã nộp xong nên bị đơn phải hoàn trả lại nguyên đơn số tiền nêu trên.
[4] Về án phí sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng
Căn cứ vào các Điều 463, 465, 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 đối với bà Phan Thị Tuyết N về việc yêu cầu liên đới cùng ông Huỳnh Vũ B trả số tiền 38.000.000 đồng và lãi 12.330.240 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.
2.1 Buộc ông Huỳnh Vũ B và bà Phan Thị Tuyết N liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 gốc 950.000.000 đồng, lãi tính đến ngày
22/4/2024 là 166.590.675 đồng. Tổng nợ gốc và lãi đến ngày 22/4/2024 là 1.116.590.675đ (Một tỷ một trăm mười sáu triệu năm trăm chín mươi nghìn sáu trăm bảy mươi lăm đồng). Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 23/4/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0782200025200 ngày 29/11/2022 cho đến khi ông B và bà N thanh toán xong khoản nợ.
2.2 Buộc ông Huỳnh Vũ B trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 vốn vay thẻ tín dụng 38.000.000 đồng lãi tính đến ngày 22/4/2024 là 12.330.240 đồng. Tổng nợ gốc và lãi đến ngày 22/4/2024 là 50.330.240đ (Năm mươi triệu ba trăm ba mươi nghìn hai trăm bốn mươi đồng)
2.3 Trong trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng hạn mức tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 154m², thửa đất 134, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI228109, số vào sổ cấp GCN: CS05961 do Sở T2 cấp cho ông Huỳnh Vũ B vào ngày 06/10/2022. Đất toạ lạc tại xã H, huyện P, tỉnh An Giang và diện tích đất 129,5m², thửa đất 30, tờ bản đồ số 8, loại đất ở nông thôn và nhà ở gắn liền trên thửa 30, có diện tích xây dựng 85,5m², diện tích sàn 85,5m², kết cấu Móng cột BTCT, nền gạch ceramic+gạch tàu, vách tường, mái tole, nhà cấp 4, số tầng 1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 256305, số vào sổ cấp GCN: CH04678 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Huỳnh Vũ B và bà Phan Thị Tuyết N vào ngày 27/7/2011. Nhà và đất toạ lạc tại Đường liên huyện, tổ B, ấp H, xã H huyện P, tỉnh An Giang để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán thì ông B và bà N phải tiếp tục trả hết nợ còn thiếu.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 850.000 đồng bị đơn phải chịu, do Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 đã nộp xong nên bị đơn phải hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền nêu trên.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông B và bà N phải chịu án phí sơ thẩm là 45.498.000 đồng. Ngoài ra, ông B còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.517.000 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.500.000 đồng theo biên lai số 0006662 ngày 27/10/2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.
Các đương sự có quyền làm đơn káng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
8
Bản án số 113/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 113/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
